-
Kinh doanh và khởi nghiệp trên nền tảng văn hóa

Kinh doanh và khởi nghiệp trên nền tảng văn hóa đã có từ lâu nhưng đến bây giờ mới bắt đầu nở rộ?
Nguyễn Đặng Anh Minh – Nguyễn Đặng Tuấn Minh
Kinh doanh và khởi nghiệp trên nền tảng văn hóa đã có từ lâu nhưng đến bây giờ mới bắt đầu nở rộ?

Người hát dân ca: Tranh lụa Nguyễn Phan Chánh. Nguồn ảnh: Lehouseart.com
Nói một cách đơn giản, văn hóa đại diện cho hành trình của con người trong dòng đời, và ghi lại trải nghiệm và biểu hiện của con người từ mọi lứa tuổi và mọi khu vực trên thế giới – Volkan Bozkır.
Liên Hợp Quốc đã chỉ định năm 2021 là Năm quốc tế về nền kinh tế sáng tạo vì sự phát triển bền vững. Tổ chức này đã nhận định các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo (Creative and culture industry – CCI) là động lực chính của sự phát triển kinh tế toàn diện và bền vững, đồng thời đem lại những đóng góp quan trọng khi chúng ta tái thiết kinh tế và xã hội sau đại dịch COVID-19.
Tại sao CCI trở thành một xu hướng quan trọng? Các quốc gia trên thế giới đang làm như thế nào? Chúng tôi định nghĩa kinh doanh và khởi nghiệp trên nền tảng văn hóa và di sản là những mô hình kinh doanh và khởi nghiệp sáng tạo lấy nguồn lực chính là những giá trị văn hóa và/hoặc di sản của một cộng đồng. Từ những trải nghiệm của chính mình khi hỗ trợ các dự án khởi nghiệp trên nền tảng văn hóa và di sản, đồng thời được truyền cảm hứng từ những dự án của thế giới, loạt bài viết sắp tới mong muốn mang lại một góc nhìn mới về vấn đề này. Trong khuôn khổ bài viết mở màn, chúng tôi muốn nói về tầm quan trọng của việc kinh doanh trên nền tảng văn hóa.
Sức ép từ cộng đồng

Người Ý hát trên ban công giữa đại dịch COVID-19. Ảnh: atlasobscura.com Ít ai có thể quên được cảnh tượng người dân khắp châu Âu cùng hòa ca từ ban công nhà mình giữa những ngày phong tỏa tăm tối nhất trong đại dịch COVID-19. Ở thời điểm đó, văn hóa càng thể hiện khả năng hàn gắn, cứu rỗi, nâng đỡ tinh thần họ. Tuy nhiên, nhiều khi chúng ta chỉ nhận ra giá trị của một thứ khi mình đang đánh mất nó. Người đứng đầu Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO), Audrey Azoulay, từng nói rằng trong hơn một năm, COVID-19 đã dẫn đến “một cuộc khủng hoảng đa dạng văn hóa”. Bà nhấn mạnh: “Việc đóng cửa các viện bảo tàng và di sản thế giới cũng như hủy bỏ các lễ hội, buổi hòa nhạc và nghi lễ đã đẩy thế giới văn hóa vào tình trạng bất ổn đáng lo ngại, đe dọa đặc biệt đến những người sáng tạo độc lập, những người là huyết mạch của sự đa dạng văn hóa”. Bà nhấn mạnh sự cần thiết của một “Thỏa thuận mới”, trong đó văn hóa được sử dụng như một “lợi ích chung” để mở ra những chân trời và mang lại cho các xã hội sự kết nối và ý nghĩa. “Đó là lý do tại sao chúng ta phải giúp nó phục hồi, bằng tất cả sức mạnh và sự đa dạng của nó”, bà Azoulay nói.

Một poster của Netflix thể hiện tính đa dạng và bao dung văn hóa trong nội dung của họ. Ảnh: Netflix Trên thực tế, cuộc khủng hoảng tinh thần khi đại dịch toàn cầu diễn ra đã để lại những sang chấn chưa từng có cho tinh thần của con người và cộng đồng. Sự gián đoạn trong giao tiếp, sự cô lập, nỗi sợ hãi khiến con người dường như nhận ra một điều, vật chất tuy đóng một vai trò quan trọng trong đời sống, nhưng dường như chúng ta đã bỏ rơi tinh thần của mình. Trong sự khủng hoảng đó, con người nhận ra dường như mình không thể tiếp tục sống, tiêu dùng và hưởng thụ như trước đây. Xã hội đang chứng kiến những dịch chuyển lớn về hành vi tiêu dùng. Người tiêu dùng đang tìm về những giá trị nguyên bản của thiên nhiên và những giá trị di sản của chính cộng đồng của mình nhiều hơn để thực sự hiểu và trân trọng hiện tại. Và cũng chính giai đoạn này, khi nhận ra vai trò to lớn của văn hóa và di sản, chúng ta nhận ra rằng từ trước, chúng ta đã không thực sự đưa văn hóa và sự sáng tạo vào đúng vai trò của nó.
Sự thay đổi của người tiêu dùng sẽ ảnh hưởng đến nhận thức của người làm kinh doanh. Không thiếu những ví dụ gần đây về chiếm dụng văn hóa (cultural appropriation) của các hãng thời trang lớn bị chỉ trích của người tiêu dùng trên thế giới. Rồi đây, người làm kinh doanh cần hiểu rằng, kinh doanh bền vững không chỉ dừng lại ở việc “thân thiện với môi trường”, “công bằng với người lao động” mà còn trân trọng những giá trị văn hóa và di sản của cộng đồng để lại trong mỗi sản phẩm và dịch vụ mà chúng ta tạo ra. Sự bền vững đó được tạo ra bởi nền tảng và sự tìm hiểu văn hóa sâu sắc của người lãnh đạo kinh doanh, kết hợp với những công nghệ và mô hình kinh doanh mới.
Văn hóa và di sản là động lực cho kinh doanh và khởi nghiệp
Trân trọng văn hóa không chỉ là tiêu chí mà các doanh nghiệp phải theo đuổi mà đổi lại, nó cũng tạo đà phát triển cho doanh nghiệp. “Văn hóa của một cá nhân quyết định sự ứng xử của khách hàng. Các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định mua hàng của một cá nhân. Mỗi cá nhân đều có những thói quen, niềm tin và nguyên tắc khác nhau mà họ phát triển từ địa vị và nền tảng gia đình của mình. Những gì họ nhìn thấy từ thời thơ ấu trở thành văn hóa của họ.” Hiểu biết của một doanh nghiệp về những giá trị văn hóa và di sản ảnh hưởng như thế nào đến từng cộng đồng và phân khúc người tiêu dùng trở thành một nguồn lực chính của mô hình kinh doanh, quan trọng không kém những yếu tố khác như cơ sở vật chất, tài chính, nguồn nhân lực. Doanh nghiệp nào càng hiểu rõ điều này thì càng có nền tảng vững chắc để đổi mới mô hình kinh doanh hiệu quả. Netflix là một ví dụ, từ một công ty chuyên cho thuê băng đĩa đã trở thành một “kênh ti vi toàn cầu” (global TV network). Một trong những lí do khiến nền tảng chiếu phim này trở thành một đế chế nội dung như ngày nay, đó là những nội dung họ tạo ra không chỉ tập trung vào những người Mỹ da trắng mà hướng đến những nhóm người với những đặc điểm về sắc tộc, tôn giáo, lứa tuổi, tình trạng sức khỏe, tâm lý vốn ít được hiện diện trên truyền thông. Netflix cũng không chỉ là về nước Mỹ mà nền tảng này còn “đặt hàng” cả những đạo diễn và biên kịch tài năng trên khắp thế giới, cả những người làm nghệ thuật độc lập chưa có nhiều tên tuổi. Hay có thể kể đến những ví dụ gần đây như những bảo tàng, nhà hát, gallery “đóng gói” tài sản văn hóa của mình để truyền tải qua môi trường ảo. Công chúng có thể tận hưởng nghệ thuật vốn phải đến mua vé và ngồi vào nhà hát cách mình nửa vòng Trái đất một cách rẻ hơn và đôi khi, gần gũi hơn. Chẳng hạn như phòng tranh Art Basel Hong Kong trong thời điểm đại dịch đã trưng bày 2000 tác phẩm trị giá gần 300 triệu USD online. Với những người buôn tranh, trải nghiệm này có phần “riêng tư” hơn và ánh sáng còn đẹp hơn xem trực tiếp. Doanh số online của Art Basel Hong Kong nhờ vậy đã tăng 400% chỉ sau một năm.
Người tiêu dùng đang tìm về những giá trị nguyên bản của thiên nhiên và những giá trị di sản của chính cộng đồng của mình nhiều hơn để thực sự hiểu và trân trọng hiện tại.
Văn hóa không chỉ là đòn bẩy dịch chuyển những mô hình sẵn có mà còn khởi sinh những doanh nghiệp mới. Khi COVID 19 càn quét qua, người ta cũng nhận ra sức sống bền bỉ của những dòng chảy văn hóa và di sản trong cộng đồng phát huy tác dụng. Những cộng đồng nhỏ gắn kết với nhau kể những câu chuyện về văn hóa và di sản của dân tộc, cộng đồng mình như một lời chia sẻ. Những sản phẩm chứa đựng câu chuyện, nét đẹp văn hóa và di sản trở thành một phần không thể tách rời của mô hình kinh doanh tiềm năng. Cũng nhờ sự bền bỉ này mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở địa phương sống sót qua dịch và thậm chí còn truyền cảm hứng cho nhiều doanh nghiệp mới ra đời. Ở Việt Nam, trong vài năm trở lại đây, sự ra đời của những doanh nghiệp thời trang dựa trên nền tảng di sản văn hóa và phát triển bền vững đã manh nha và ngày càng nhiều. Xu hướng số hóa các di sản này cũng cho ra đời những khởi nghiệp sáng tạo mới, góp phần vào định hình những xu hướng mới cho sáng tạo trên nền tảng văn hóa.
Kinh doanh trên nền tảng văn hóa và di sản không hề mới, thậm chí nó đã được thực hiện cả hàng nghìn năm nay. Cũng theo Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, các lĩnh vực văn hóa sáng tạo chiếm 3% nền kinh tế toàn cầu, tạo ra 2,25 nghìn tỷ USD hằng năm và hỗ trợ 30 triệu việc làm trên toàn thế giới – nhiều hơn cả ngành công nghiệp ô tô của châu Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ cộng lại. “Các lĩnh vực sáng tạo không chỉ làm phong phú thêm cuộc sống của chúng ta mà còn là những lĩnh vực tạo việc làm lớn nhất cho những người trẻ tuổi. Tuy nhiên, những đóng góp của văn hóa, sáng tạo nói chung và văn hóa, di sản nói riêng vẫn chưa thực sự được phản ánh một cách đúng đắn trong đời sống và hoạt động kinh doanh. “Bất chấp quy mô, giá trị và tầm ảnh hưởng của các lĩnh vực sáng tạo, “chúng ta vẫn chưa phản ánh điều này trong các quyết sách và quyết định tài chính của mình” và văn hóa, sáng tạo vẫn “xếp cuối hàng”, chúng ta đang đánh giá rất thấp những đóng góp chung của chúng.

Phòng tranh ảo của Art Basel Hong Kong. Ảnh: nytimes.com Sự nỗ lực của các doanh nhân vẫn còn chưa đủ. Cho đến gần đây, các chính phủ mới có một chiến lược rõ ràng hơn để thúc đẩy giới doanh nhân nhìn nhận văn hóa như một nguồn lực kinh doanh. Giữa năm 2021, lần đầu tiên trong lịch sử, các bộ trưởng của G20 đã nhất trí với tuyên bố G20 về văn hóa, trong đó xác định văn hóa là động lực chính để phục hồi kinh tế xã hội bền vững sau đại dịch. Tuyên bố này bao gồm năm nội dung mà Tổng thống Ý đã tuyên bố trước đó gồm: bảo vệ di sản văn hóa, văn hóa và biên đổi khí hậu, văn hóa và giáo dục, công nghiệp văn hóa và sáng tạo và văn hóa trong quá trình chuyển đổi số.
Diễn đàn này còn có tiếng nói đóng góp của khối doanh nghiệp. Trong đó, bài phát biểu của doanh nghiệp Ấn Độ cũng là câu chuyện của tất cả các doanh nghiệp khác trên thế giới: “Doanh nghiệp văn hóa là những doanh nghiệp thành công bắt nguồn từ di sản văn hóa, trí tuệ và thực tiễn của Ấn Độ đồng thời có thị trường mạnh và tập trung vào khách hàng. Các doanh nghiệp này đóng vai trò là những người kể chuyện, truyền đạt những thành tựu, di sản thủ công, kiến thức bản địa và năng lực sáng tạo của Ấn Độ dưới dạng các sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm có thương hiệu. Hơn nữa, bằng cách sử dụng đúng loại nhãn hiệu, bao bì và chiến lược tiếp thị, các doanh nghiệp này cũng định vị văn hóa Ấn Độ theo cách được tôn trọng và thu hút sự nhạy cảm của người tiêu dùng toàn cầu”.
Ví dụ trên thế giới
Chúng tôi lựa chọn hai ví dụ dưới đây trong rất nhiều các câu chuyện truyền cảm hứng trên thế giới vì những liên tưởng tới việc khai thác nhiều di sản vật thể và phi vật thể ở Việt Nam.
“Bất chấp quy mô, giá trị và tầm ảnh hưởng của các lĩnh vực sáng tạo, “chúng ta vẫn chưa phản ánh điều này trong các quyết sách và quyết định tài chính của mình” và văn hóa, sáng tạo vẫn “xếp cuối hàng”, chúng ta đang đánh giá rất thấp những đóng góp chung của chúng.
Hadrian Wall – cách khai thác một di sản vật thể
Hadrian’s Wall (Lũy Hadrian) ở Anh là một công trình quân sự thời La Mã. Tên gọi của nó bắt nguồn từ tên gọi của hoàng đế La Mã Hadrian, người đã đến Anh vào năm 122 TCN và cũng là người đã cho xây dựng một bức tường dài 80 dặm nhằm ngăn cách giữa vùng đất thuộc về đế quốc La Mã với vùng đất của các dân tộc bị coi là ‘man rợ’. Ngày nay, công trình này dài 117km ( tương đương 73 dặm), với dấu tích của 14 đồn còn sót lại. Toàn bộ hệ thống đồn, hào, đường quân sự gắn với lũy Hadrian đã hợp thành một phần của di sản thế giới xuyên quốc gia-biên giới của đế quốc La Mã được UNESCO công nhận vào năm 1987.
Năm 2010, trong khuôn khổ của Dự án nghiên cứu lịch sử và di sản miền Trung- Tĩnh man Trường lũy ở Quảng Ngãi, do Viện Viễn Đông Bác cổ tiến hành, chúng tôi được đến thăm Hadrian’s Wall để học cách khai thác, phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa của một di sản trong bối cảnh đương đại. Tại đây, chúng tôi được làm việc với nhiều chuyên gia về bảo tàng, bảo tồn, di sản cũng như được đi thăm quan rất nhiều đoạn lũy, một số đồn quan trọng, tham dự một số tour, tham gia khai quật để khám phá hệ thống tường thành của Hadrian và hiểu cách họ khai thác và bảo tồn di sản này. Theo quan sát của chúng tôi, giá trị của di sản này đã được khai thác với nhiều cách thức khác nhau.
Trước hết là hệ thống các bảo tàng dọc Hadrian’s Wall với 10 bảo tàng, trong đó nhiều bảo tàng được dựa trên chính các đồn quân sự cũ. Dựa trên các hiện vật, những phần còn sót lại của các công trình kiến trúc chủ yếu là đồn, mỗi bảo tàng lại hướng đến một chủ đề, chủ điểm khác nhau, nhằm khắc họa những khía cạnh khác nhau của lịch sử La Mã trên vùng đất này: ví dụ: đồn Housesteads có thể coi là một điển hình về sự phức hợp của một đồn La Mã, trong đó, có bệnh viện, nhà tắm, nhà vệ sinh chung; hay đồn Chesters như một nơi giải trí thư giãn với các nhà tắm có hệ thống nước nóng, nước lạnh, bể bơi, phòng xông hơi…Qua hệ thống bảo tàng đó, một phần cuộc sống, lịch sử, văn hóa La Mã đã được tái hiện. Cùng với đó, sự đa dạng về chủng loại của các đồ lưu niệm với những thông điệp mang giá trị văn hoá gắn liền với đặc trưng của từng bảo tàng trong hệ thống cũng là một kênh thu nhập của các bảo tàng này.

Các diễn viên đóng lính La Mã pose hình trên Hadrian’s Wall. Ảnh: nationalgeographic.com Ngoài ra, sự phong phú, đa dạng về cảnh quan tự nhiên thay đổi dọc theo chiều dài 117km của lũy Hadrian cũng được khai thác triệt để thông qua hệ thống các tour được thiết kế với sự đa dạng về thời gian, đối tượng phục vụ, ví dụ như tour đi bộ dọc theo con đường mòn dọc luỹ để ngắm phong cảnh, tour đi bộ cho một gia đình,,..
Vì là một công trình kiến trúc từ thời La Mã, việc khai quật khảo cổ học để tiếp tục tìm hiểu các giá trị văn hóa lịch sử của lũy Hadrian chưa bao giờ kết thúc. Đồn Vindolanda với khu khai quật liên tục hoạt động là một ví dụ. Tại đây, những nhà quản lý tổ chức các cuộc khai quật có thu phí với sự tham gia của tình nguyện viên từ khắp nơi trên thế giới đến để tham gia nghiên cứu. Các tình nguyện viên thường là các sinh viên khảo cổ học đến tham gia khai quật để thực hành và học hỏi kinh nghiệm. Cũng tại đây, các nhà khảo cổ vừa là người giới thiệu về lịch sử và sự khác biệt của của Vindolanda, vừa là người hướng dẫn các cuộc khai quật.
Việc khai thác di sản lũy Hadrian theo nhiều cách thức khác nhau để phục vụ cho việc phát triển du lịch đã thu hút trung bình 100,000 lượt khách một năm. Với mục tiêu hướng tới 3 triệu lượt khách một năm (để tiện so sánh, con số này tương đương với tổng lượt khách trong vòng 15 năm của Bảo tàng Dân tộc học ở Việt Nam), Anh đã dự kiến đầu tư 30 triệu bảng Anh để thúc đẩy phát triển du lịch gắn với lũy Hadrian.
Vải Batik, Indonesia – cách khai thác một di sản phi vật thể
Nói đến Indonesia là người ta nói đến vải batik. Đây là kĩ thuật vẽ và nhuộm vải thủ công. Các nghệ nhân dùng sáp ong (để đánh dấu các đường nét không muốn nhuộm) và thuốc nhuộm từ cỏ cây để vẽ họa tiết rồi nhúng màu tấm vải nhiều lần, tạo ra những họa tiết vừa rực rỡ nhưng cũng vừa tinh tế, chi tiết.

Một workshop về vải batik ở Indonesia. Ảnh: getty Indonesia không phải là quốc gia duy nhất sở hữu kĩ thuật tạo ra vải batik, nhưng có lẽ họ là đất nước thành công nhất trong việc kể chuyện về vải batik, đưa tấm vải này lên tầm biểu tượng văn hóa dân tộc. Vải batik của Indonesia, với sự đa dạng về mục đích sử dụng, sử dụng kỹ thuật vẽ sáp ong và nhuộm tay, truyền thống, hoa văn phong phú về hình thức chứa đựng nhiều ý nghĩa văn hóa, lịch sử và tôn giáo, gắn liền với đời sống của người Indonesia trên mọi phương diện từ khi sinh ra đến khi mất đi. Lịch sử Indonesia, đặc biệt sự giao lưu với các nền văn hóa lớn trên thế giới như Vương quốc Ả Rập, Trung Quốc hay châu Âu cũng được phản ánh trên các hoa văn vải. Chính vì vậy, vải batik đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và truyền miệng vào năm 2009.
Việc tôn vinh và khai thác vải batik để phục vụ cho phát triển kinh tế là một phần của chiến lược của quốc đảo này. Trước hết, đó là sự ra đời của ngày batik. Dựa vào quyết định của UNESCO, ngày 2/10 hằng năm đã trở thành Ngày Batik của Indonesia. Đây là một lễ hội văn hóa quốc gia nhằm tôn vinh vải batik và các giá trị văn hóa, lịch sử liên quan đến loại vải này với sự tham gia tất cả các người dân và các tổ chức. Người dân với phục trang ‘từ đầu đến chân’ từ vải và nghệ thuật batik. Các cơ quan, trường học cũng yêu cầu nhân viên, học sinh mặc trang phục từ vải batik.
Bên cạnh đó, mặc dù vẫn giữ kỹ thuật truyền thống, nhưng việc sản xuất vải batik đã có những bước phát triển để phù hợp với nhu cầu của thị trường, xu hướng thời trang thế giới. Sự ra đời của các hoa văn và màu sắc mới dựa trên sự sáng tạo tự do của người sản xuất là một ví dụ điển hình. Ví dụ như, trước đây, đen và nâu là hai gam màu chủ đạo trong việc sản xuất vải batik thì giờ đây các màu sắc tươi sáng như đỏ, xanh, vàng, tím đã trở nên phổ biến.
Ngoài ra, việc thiết kế các tour liên quan đến sản xuất vải batik cũng là một cách thức khác nhằm tôn vinh và khai thác di sản này. Bạn có thể dễ dàng tìm thấy các tour liên quan đến vải batik ở Bali hay một số trung tâm sản xuất vải batik nổi tiếng.
Hơn thế nữa, việc tôn vinh và quảng bá cho vải batik và các câu chuyện lịch sử, văn hóa gắn với loại vải này còn được thực hiện thông qua hệ thống các bảo tàng công và tư nằm ở nhiều nơi trên đất nước Indonesia, ví dụ như: Bảo tàng Quốc gia Indonesia ở Jakarta, bảo tàng Ullen Sentalu ở Yogyakarta…Có những bảo tàng chỉ chuyên về Batik ví dụ như bảo tàng Batik Indonesia ở Jakarta, bảo tàng batik ở Yogyakarta hay bảo tàng Danar Hadi Batik ở Solo – một trong những trung tâm sản xuất vải batik lớn của Indonesia và nơi được coi là quê hương của vải batik…
Ở Indonesia, việc sản xuất vải batik đã trở thành một ngành công nghiệp tạo ra nguồn thu quan trọng cho nền kinh tế đất nước cũng như số lượng lớn việc làm cho người dân. Việc xuất khẩu vải batik đến nhiều thị trường như Mỹ, Pháp, các nước Ả Rập… đã có đóng góp rất lớn vào tổng thu nhập quốc dân của Indonesia. Năm 2020, với 47.000 doanh nghiệp thuộc 101 vùng trên lãnh thổ Indonesia, 200,000 công nhân tham gia, xuất khẩu vải batik đạt 532,7 triệu USD. Ngành công nghiệp batik được Chính phủ Indonesia coi là một ngành trụ cột trong việc thực hiện lộ trình tích hợp ‘Making Indonesia 4.0’.
Việt Nam là đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh, với sự tồn tại của nhiều công trình lũy như Lũy Thầy được xây dựng ở Quảng Bình từ năm 1631 với chiều dài 34km gắn liền với cuộc nội chiến Nam – Bắc triều hay Tĩnh man Trường lũy được xây dựng từ 1818 với chiều dài hơn 100 km gắn liền với mối quan hệ giữa những người thiểu số ở khu vực miền núi phía Tây với người Kinh ở vùng đồng bằng ở Quảng Ngãi. Là đất nước với sự đa dạng về thành phần dân tộc với sự phong phú, độc đáo về kỹ thuật dệt, loại hình hoa văn, như kỹ thuật vẽ sáp ong trên nền vải lanh của người H’mông hay kỹ thuật nhuộm chàm của người H’mông, người Tày…ở vùng miền núi phía Bắc, kỹ thuật nhuộm từ các loại lá, củ trong rừng của người Êđê, Jrai… ở Tây Nguyên. Tuy nhiên, những di sản này vẫn chưa được khai thác một cách thực sự hiệu quả, có hệ thống và chiến lược để đóng góp một cách rõ nét vào sự phát triển kinh tế của các cộng đồng tại chỗ cũng như quốc gia.□
Đón đọc kì sau: Khai thác văn hóa và di sản cho kinh doanh và khởi nghiệp trở thành chiến lược quốc gia và quốc tế.
——–
Tài liệu tham khảo:
https://news.un.org/en/story/2021/05/1092522
https://nailsma.org.au/programs/economic-development-and-employment/cult…
https://ec.europa.eu/programmes/erasmus-plus/project-result-content/3d1a…
https://www.unesco.org/en/articles/g20-ministers-meeting-unesco-calls-mo…
https://unctad.org/meeting/riyadh-international-creative-economy-forum
https://www.g20.org/content/dam/gtwenty/about_g20/previous_summit_docume…
-
Vietnam’s Startup Ecosystem: Struggling to Define Its Identity

Successful startup ecosystems around the world share one key trait: they have identified a unique identity and turned it into a competitive advantage. So, how can Vietnam discover its own identity?

Joan Miró’s Woman, Bird, Star (Homage to Pablo Picasso) Nguồn: https://www.spanish-fiestas.com/joan-miro-catalan-artist/
Nearly 15 years have passed since the concept of “innovation” was first vigorously promoted in Vietnam with the commitment of the Ministry of Science and Technology and support from the Finnish Government (2009). Terms such as “innovation startup” and “startup ecosystem” have since become commonplace in Vietnamese society. These 15 years offer an opportunity to reflect on certain indicators used internationally to assess Vietnam’s presence on the global startup ecosystem map.

Startup showcasing their products at Techfest 2018. Photo: TF.
According to the Startup Blink Global Startup Ecosystem Index 2023, Vietnam ranks among the top 60 global startup ecosystems but has dropped four places compared to 2022.
In 2023, Startup Genome ranked Ho Chi Minh City as Vietnam’s only representative among the top 100 emerging startup markets globally, specifically in the 81–90 group.
These numbers may provide some perspective on Vietnam’s current position compared to its past. They also reflect how startups and investors around the world perceive Vietnam. However, they do not reveal the unique characteristics or distinctive value propositions of the Vietnamese ecosystem—what makes it attractive, what core challenges it is solving for local and international communities.
When it comes to identifying a distinct feature of the Vietnamese startup ecosystem, it’s hard to pinpoint a clear, uncontested term or image.
In contrast, major global startup hubs can be described using concise phrases that capture their core advantages—developed through years of experience and self-discovery. These identities form the basis of their long-term strategies and become a unique and sustainable competitive edge. Let’s examine some examples:
- Silicon Valley, USA:
- Risk-taking and entrepreneurial mindset
- Abundant venture capital and angel investment
- Dense networks of entrepreneurs, mentors, and advisors
- Strong ties with top universities like Stanford and UC Berkeley
Key strengths: Agtech (#1 globally), Fintech (#1 globally)
- Berlin, Germany:
- Affordable living costs
- Diverse and international community
- Rich cultural landscape and quality of life
- Government initiatives supporting startups and innovation
Key strengths: Cleantech (#11), Blue Economy (#38), Fintech, AI/Data Analytics
- Bengaluru-Karnataka, India (#20 globally):
- Mature ecosystem with unicorns and major firms
- Highly skilled workforce
- Strong government support
Key strengths: Agtech (#13), Fintech (#21), Life Sciences, Cleantech
- Tel Aviv, Israel:
- Synergy between military service and entrepreneurial culture
- High risk tolerance and mature ecosystem
- Government support through tax incentives and early adoption
Key strengths: Cleantech (#2), Fintech (#4), AI & Big Data, Cybersecurity, Life Sciences
- Kuala Lumpur, Malaysia:
- Young, well-educated workforce (average age 30.3, EF English Index #3 ASEAN, #24 globally)
- Business-friendly policies promoting digital nomad hubs
- Government-backed funding and VC support
Key strengths: Fintech, E-commerce, Health Tech
- Buenos Aires, Argentina:
- Tech talent via free education and strong English proficiency
- International community and digital nomad hub
- Proximity to major U.S. startup markets
Key strengths: Fintech, Blockchain, AgriTech & Novel Foods
- Beijing, China (#7 globally in 2023):
- Huge domestic market and growing middle class
- Government support for tech startups
- Rapid adoption and scale of new tech
- Strong focus on E-commerce and tech-driven enterprises
Key strengths: Agtech (#8), Fintech (#6)
As for Vietnam, while media—domestic and international—often cite the country’s strength in young, talented human resources, there are many reasons why this strength hasn’t yet translated into a competitive advantage. Despite Vietnam’s technical talent potentially outperforming neighboring countries, weak English proficiency remains a major hurdle. Even among the few with both technical and language skills, an entrepreneurial mindset remains rare.
In terms of sectors, Startup Blink identifies the strengths of Vietnam’s two main startup cities as follows:
- Hanoi: EdTech and Fintech
- Ho Chi Minh City: E-commerce and Retail
However, these strengths are mainly investment-driven and not yet backed by robust policy environments (e.g., regulatory sandboxes) to foster groundbreaking solutions—particularly in Fintech—despite years of policy discussions.
From Identity to Competitive Advantage
Vietnam’s startup ecosystem is growing fast and achieving some noteworthy results, but it still lacks a clearly defined identity and competitive edge. Some key reasons include:
Uneven ecosystem development:
Vietnam’s ecosystem is still in its early stages, with major gaps between large cities and other regions. Even in dynamic hubs like Hanoi and Ho Chi Minh City, ecosystem components vary in maturity. According to Startup Genome, which evaluates ecosystems on six dimensions—Performance, Funding, Connectedness, Market Reach, Knowledge, and Talent & Experience—Ho Chi Minh City scores 5/10 in Funding and 7/10 in Talent & Experience, while the rest are at a nascent level (1/10).Weak internal connectivity:
Most collaborations remain short-term, lacking long-term strategic planning. Startups, investors, support organizations, and universities still lack deep integration, limiting startups’ access to essential resources like funding, tech support, and markets.Limited global vision:
Although over 5 million Vietnamese live abroad—including 600,000+ knowledge workers—Vietnam has yet to tap into this diaspora effectively. Most local startups lack a global product vision and do not leverage Vietnam’s strong network of bilateral trade agreements to scale internationally.According to Prof. Daniel Isenberg (Harvard & Babson), an ecosystem’s identity stems from elements like culture, government policy, education, and capital markets. Competitive advantage must be recognized and nurtured by the nation itself through strategic elevation and adaptability to global trends.
Moving Forward: Toward a Unique and Competitive Identity
After 15 years of brave experimentation, it’s time for Vietnam’s startup ecosystem to harness its distinct strengths. Here are some recommendations:
Identify core strengths:
Vietnam’s potential global offerings include EdTech, AgriTech, HealthTech, Biotech, Novel Foods, and CulturalTech.Solve real local problems while engaging with ASEAN:
Vietnamese startups should focus on solving real societal issues domestically—such as environmental and social challenges—using local markets as testbeds for impactful innovation before expanding globally. ASEAN (600 million+ population) can be a springboard for regional and international scaling.Nurture a unique entrepreneurial culture:
Developing a local startup culture takes time and policy support. Vietnam’s welcoming and friendly culture could appeal to digital nomads seeking a base in Southeast Asia.Host events and global meetups:
Organizing global startup gatherings could build global networks, attract investment and talent, and position Vietnam as a rising ecosystem with both global reach and local depth.Leverage and fix education:
Partner with education institutions to nurture entrepreneurial skills while reforming weaknesses in the current education system. Harness the talent network but also build long-term programs to develop entrepreneurial mindsets.Build a strong brand identity:
Develop a distinctive ecosystem brand using compelling storytelling, symbols, and marketing materials to communicate its unique value proposition.Measure and evaluate:
Collect high-quality, regularly updated data to monitor performance and refine strategies.Promote inclusion and sustainability:
Design programs that foster diversity and promote environmentally and socially conscious startups to attract like-minded investors and founders.By systematically addressing these areas and continuously improving based on data and feedback, Vietnam’s startup ecosystem can craft a unique identity and transform it into a powerful competitive edge—drawing in talent, capital, and global opportunities.
This article reflects the author’s personal views.
1 The author uses the launch of the Finland–Vietnam Innovation Partnership Program in 2009 as a reference point: Link
Originally published in Tia Sáng, Issue 4/2024. - Silicon Valley, USA:
-
Hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam: Loay hoay tìm bản sắc

Các hệ sinh thái khởi nghiệp thành công trên thế giới đều có điểm chung đó là tìm ra được đặc trưng và biến nó thành lợi thế cạnh tranh. Vậy, làm sao để Việt Nam tìm ra bản sắc của mình?

Me and My Parrot, 1941 by Frida Kahlo ( Nguồn: https://www.fridakahlo.org/me-and-my-parrots.jsp)
Sau gần 15 năm từ khi thuật ngữ đổi mới sáng tạo (innovation) lần đầu tiên được thúc đẩy mạnh mẽ tại Việt Nam với sự cam kết từ Bộ Khoa học và Công nghệ, sự hỗ trợ của Chính phủ Phần Lan (2009), cụm từ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp giờ đây đã trở nên phổ biến trong xã hội1. 15 năm là cơ hội để ta nhìn lại một vài con số mang tính tham khảo mà quốc tế đánh giá sự xuất hiện của Việt Nam và các thành phố của Việt Nam trên bản đồ hệ sinh thái khởi nghiệp thế giới.
Báo cáo Chỉ số hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu 2023 của Startup Blink, Việt Nam nằm trong top 60 hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo trên thế giới nhưng giảm bốn bậc trong bảng xếp hạng hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu so với 2022.
Năm 2023, theo bảng xếp hạng của Startup Genome, thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam là thành phố duy nhất cả nước nằm trong nhóm 100 thị trường startup mới nổi của toàn cầu, cụ thể là nhóm 81-90.
Những con số này có thể phần nào giúp chúng ta so sánh bản thân hiện tại so với quá khứ. Đồng thời nó cũng phản ánh vị trí của chúng ta trong mắt các doanh nghiệp khởi nghiệp và nhà đầu tư trên toàn cầu. Tuy nhiên, chúng không nói lên được hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam có những đặc trưng gì, có những giá trị gì khác biệt và vượt trội so với những nơi khác để thu hút và thúc đẩy các doanh nghiệp khởi nghiệp trong nước và quốc tế, giải quyết những vấn đề mũi nhọn nào của cộng đồng và xã hội.
Nhìn lại bản sắc và năng lực cạnh tranh của hệ sinh thái Việt Nam, nếu phải nêu đặc điểm nổi bật của hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam sẽ rất khó tìm được những cụm từ đặc trưng như trên mà không gây tranh cãi.
Nhìn lại các thủ phủ lớn về khởi nghiệp sáng tạo trên thế giới, có thể tóm tắt ngắn gọn những giá trị họ mang lại cho cộng đồng khởi nghiệp bằng những cụm từ mô tả đặc điểm ngắn gọn. Những lợi thế cạnh tranh này không tự nhiên mà có, nó là một quá trình trải nghiệm và đúc rút, đi tìm bản sắc của chính mình. Để từ đó, họ hình thành chiến lược bồi đắp cho nó trở thành lợi thế cạnh tranh khác biệt và bền vững. Hãy cùng theo dõi một số ví dụ dưới đây:
Thung lũng Silicon, Mỹ: (1) Chấp nhận rủi ro và tư duy kinh doanh; (2) Nguồn vốn mạo hiểm và nhà đầu tư thiên thần sẵn có cao; (3) Mạng lưới dày đặc các doanh nhân, cố vấn và cố vấn thành công; (4) Mối quan hệ chặt chẽ với các trường đại học hàng đầu như Stanford và UC Berkeley.
Các lĩnh vực vượt trội: Công nghệ nông nghiệp (số 1 thế giới); Công nghệ tài chính (số 1 thế giới).
Berlin, Đức: (1) Giá cả phải chăng, chi phí sinh hoạt thấp hơn so với các trung tâm khởi nghiệp khác ở châu Âu; (2) Cộng đồng đa dạng: Thu hút các doanh nhân từ nhiều nơi ở châu Âu; (3) Trung tâm văn hóa: Cảnh quan văn hóa phong phú và chất lượng cuộc sống; (4) Sáng kiến của chính phủ và các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo.
Các lĩnh vực vượt trội: Công nghệ sạch (Clean tech) xếp hạng 11 trên thế giới; Kinh tế biển (Blue Economy) thứ 38 trên thế giới; Công nghệ tài chính; Trí tuệ nhân tạo, Phân tích dữ liệu.
Bengaluru-Karnataka, Ấn Độ: thứ hạng 20 trên thế giới (1) Hệ sinh thái khởi nghiệp trưởng thành với nhiều kỳ lân và doanh nghiệp lớn; (2) Nhân lực chất lượng cao, kỹ năng trình độ tốt; (3) Sự hỗ trợ của chính phủ.
Các lĩnh vực vượt trội: Công nghệ nông nghiệp (đứng thứ 13 thế giới); Công nghệ tài chính –Fintech (đứng thứ 21 thế giới); Công nghệ đời sống (Life Sciences); Công nghệ sạch.
Tel Aviv, Israel: (1) Mối liên hệ chặt chẽ giữa nghĩa vụ quân sự và văn hóa doanh nghiệp đã thúc đẩy các sản phẩm lưỡng dụng; (2) Khả năng chấp nhận rủi ro cao và hệ sinh thái trưởng thành; (3) Sự tập trung của chính phủ vào Đổi mới sáng tạo và hỗ trợ dành cho doanh nghiệp khởi nghiệp, đặc biệt là sử dụng các sản phẩm của startup và ưu đãi thuế.
Các lĩnh vực vượt trội: Công nghệ sạch (Cleantech) thứ 2 thế giới; Công nghệ tài chính (Fintech) thứ 4 thế giới); Trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu (AI, Big Data); An ninh mạng (Cyber Security); Công nghệ đời sông (Life Sciences).
Kuala Lumpur, Malaysia: (1) Lực lượng lao động trẻ, có trình độ, độ tuổi trung bình ở Malaysia là 30,3 tuổi, chỉ số năng lực tiếng Anh EF 2022 xếp hạng 3 trong ASEAN và 24 trên toàn cầu; (2) Sự dễ dàng trong kinh doanh, chính sách thúc đẩy Malaysia thành trung tâm du mục kỹ thuật số; (3) Hỗ trợ khởi nghiệp của chính phủ đặc biệt là nguồn vốn và sự xuất hiện của các quỹ lớn.
Các lĩnh vực vượt trội của Malaysia: Công nghệ tài chính (Fintech); Thương mại điện tử (E-commerce); Công nghệ sức khỏe (Health Tech).
Buenos Aires, Argentina: (1) Tài năng công nghệ do chính sách miễn học phí với những trường đại học nổi tiếng thế giới và trình độ tiếng Anh tốt; (2) Cộng đồng quốc tế đông đảo, điểm đến cho các du mục kỹ thuật số; (3) Vị trí thuận lợi đến các trung tâm khởi nghiệp lớn ở Mỹ
Các lĩnh vực vượt trội: Công nghệ tài chính (Fintech); Blockchain; Công nghệ nông nghiệp và thực phẩm mới.
Bắc Kinh, Trung Quốc: Đứng thứ 7 trên thế giới trong năm 2023(1)Quy mô thị trường nội địa rộng lớn với tầng lớp trung lưu ngày càng tăng; (2) Sự hỗ trợ của Chính phủ Trung Quốc cho khởi nghiệp và ứng dụng công nghệ; (3) Tăng trưởng nhanh, phát triển nhanh chóng và áp dụng các công nghệ mới; (4) Trọng tâm thương mại điện tử và các doanh nghiệp định hướng công nghệ.
Các lĩnh vực vượt trội: Công nghệ nông nghiệp (đứng thứ 8 thế giới); Công nghệ tài chính (đứng thứ 6 thế giới).
Nhìn lại bản sắc và năng lực cạnh tranh của hệ sinh thái Việt Nam, nếu phải nêu đặc điểm nổi bật của hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam sẽ rất khó tìm được những cụm từ đặc trưng như trên mà không gây tranh cãi. Chẳng hạn, chúng ta thường được truyền thông trong nước và quốc tế đánh giá là có thế mạnh về nhân lực trẻ và tài năng. Tuy nhiên, có thế mạnh là một chuyện, có rất nhiều yếu tố khiến chúng ta chưa thể biến nó thành một lợi thế cạnh tranh. Cho dù trình độ chuyên môn của nhân lực công nghệ tại Việt Nam có nhỉnh hơn các quốc gia trong khu vực thì trình độ tiếng Anh lại là một điểm yếu không dễ gì khắc phục được trong thời gian ngắn. Ngay cả trong số những nhân lực ít ỏi có cả trình độ công nghệ và tiếng Anh tốt thì tư duy để trở thành một nhà sáng lập hoặc đồng sáng lập vẫn là một rào cản. Hay, xét về ngành, theo đánh giá của Startup Blink, ngành có thế mạnh của hai thành phố chính trong hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam bao gồm: Công nghệ giáo dục và Công nghệ tài chính (Hà Nội); Thương mại điện tử và bán lẻ (thành phố Hồ Chí Minh). Tuy nhiên, đó chỉ là trên khía cạnh gọi vốn. Để trở thành một thế mạnh thật sự, các ngành này, đặc biệt là Fintech, cần cam kết rất lớn của chính phủ trong việc tạo ra các vùng đệm (sandbox) của chính sách để kích thích và thử nghiệm những giải pháp mới, đột phá chưa từng có – điều mà Việt Nam loay hoay nhiều năm vẫn chưa thực hiện được.
Từ bản sắc đến lợi thế cạnh tranh

Hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam đang phát triển nhanh chóng và có một số kết quả đáng ghi nhận, nhưng vẫn chưa tìm ra bản sắc riêng và lợi thế cạnh tranh của mình. Điều này có thể là do một số nguyên nhân sau:
* Trình độ phát triển của hệ sinh thái còn chưa đồng đều: Hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn phát triển ban đầu, với sự mất cân đối giữa các thành phố lớn và các khu vực khác. Các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển hơn, với nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp thành công, trong khi các khu vực khác vẫn còn đang trong giai đoạn sơ khai. Tuy nhiên, kể cả những hệ sinh thái năng động nhất cả nước như Hà Nội và thành phố Hồ chí Minh, các yếu tố trong hệ sinh thái vẫn có sự chênh lệch rất lớn và nhiều yếu tố vẫn kém phát triển. Theo báo cáo của Startup Genome, một tổ chức chuyên đánh giá các hệ sinh thái khởi nghiệp trên thế giới dựa trên sáu khía canh: hiệu suất, vốn, sự kết nối, tiếp cận thị trường, tri thức, tài năng và kinh nghiệm. Hai khía cạnh được đánh giá cao nhất của hệ sinh thái khởi nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh là vốn (5/10) và tài năng và kinh nghiệm (7/10), các khía cạnh còn lại đều ở mức độ sơ khai 1/10.
* Chưa có sự kết nối chặt chẽ giữa các thành phần trong hệ sinh thái: Những nỗ lực kết nối hệ sinh thái mới chỉ dừng lại ở việc hợp tác ngắn hạn, thiếu chiến lược dài hạn. Mặt khác, các thành phần trong hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam, bao gồm các doanh nghiệp khởi nghiệp, các nhà đầu tư, các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, và các trường đại học, vẫn chưa có sự kết nối thực sự chặt chẽ với nhau. Điều này khiến cho các doanh nghiệp khởi nghiệp khó tiếp cận được với các nguồn lực cần thiết, bao gồm vốn, hỗ trợ kỹ thuật, và thị trường.
* Còn thiếu tầm nhìn kết nối toàn cầu: Hơn 5 triệu người Việt sống ở nước ngoài, trong đó hơn 600.000 Việt kiều là tri thức. Nhưng dường như các nỗ lực kết nối với cộng đồng này vẫn chưa thực sự mang lại kết quả đột phá như kỳ vọng để đưa Việt Nam ra thế giới. Các doanh nghiệp khởi nghiệp của Việt Nam vẫn thiếu tầm nhìn toàn cầu cho sản phẩm dịch vụ của mình nên Việt Nam vẫn thiếu đi những doanh nghiệp khởi nghiệp lớn, có khả năng vươn ra thị trường quốc tế. Việt Nam với một lượng hiệp định thương mại song phương được ký kết rất nhiều, và được đánh giá là một điểm sáng của môi trường kinh doanh thì chính những doanh nghiệp khởi nghiệp trong nước hầu như không mấy quan tâm và khai thác.
Theo GS. Daniel Isenberg tại Đại học Harvard và Đại học Babson, những đặc điểm hoặc bản sắc của hệ sinh thái khởi nghiệp được hình thành bởi nhiều yếu tố khác nhau trong hệ sinh thái như văn hóa, chính sách của chính phủ, cơ sở giáo dục, thị trường đầu tư, v.v. Lợi thế cạnh tranh dựa trên bản sắc này cần phải được chính quốc gia đó nhận diện, có chiến lược nâng tầm và điều chỉnh để phù hợp với những thay đổi trên thị trường. Xác định được những điều này, Việt Nam mới có thể tập trung đầu tư và thu hút nguồn lực có mũi nhọn, tạo điều kiện tốt hơn cho những đổi mới sáng tạo xuất sắc có thể thành công, hình thành những giải pháp thực sự có ý nghĩa, không chỉ giải quyết được những vấn đề xã hội trong nước mà còn cả quốc tế.
Sau 15 năm dũng cảm dò đường, thiết nghĩ đến lúc hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam cần hiểu và tận dụng những điểm mạnh và đặc điểm riêng biệt giúp hệ sinh thái trở nên nổi bật. Để xây dựng bản sắc riêng cho hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam, cần có sự nỗ lực của tất cả các thành phần trong hệ sinh thái. Dưới đây là một số gợi ý từ góc nhìn của tác giả:
Xác định điểm mạnh cốt lõi: Một số điểm mạnh cốt lõi của Việt Nam có tiềm năng đưa Việt Nam ra thị trường toàn cầu có thể kể đến công nghệ giáo dục, tiềm năng là công nghệ nông nghiệp, công nghệ sức khỏe, công nghệ sinh học và thực phẩm mới, công nghệ văn hóa.
Mặt khác, cần phát triển các sản phẩm và dịch vụ có tính giải quyết vấn đề cho người dùng và xã hội Việt Nam và giao lưu tích cực với thị trường ASEAN. Các doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam cần tập trung vào việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ có thể giải quyết các vấn đề thực tế của người dùng và xã hội Việt Nam. Trên thực tế, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển với rất nhiều vấn đề về môi trường và xã hội. Thị trường Việt Nam có thể làm tiền đề cho các giải pháp công nghệ tạo tác động của doanh nghiệp trong nước, trước khi mang ra thị trường quốc tế. Doanh nghiệp Việt Nam cần hiện diện mạnh mẽ hơn ở thị trường nội địa và thị trường khu vực ASEAN như vai trò của những doanh nghiệp cửa ngõ. Thị trường 600 triệu dân ASEAN sẽ là một bệ phóng vững chắc cho tầm nhìn khu vực và toàn cầu của các giải pháp.
Xây dựng và nuôi dưỡng văn hóa độc đáo của hệ sinh thái: Việc phát triển văn hóa của hệ sinh thái khởi nghiệp cần thời gian nuôi dưỡng và cần những chính sách phù hợp từ chính quyền trung ương và địa phương. Văn hóa thân thiện của người Việt có thể là một điểm sáng trong thu hút các du mục kỹ thuật số đến Việt Nam để khởi nghiệp.

Nên đưa ra những sáng kiến và đăng cai tổ chức các sự kiện, hội nghị và gặp gỡ để tạo điều kiện kết nối giữa các doanh nhân, nhà đầu tư và cố vấn trên toàn thế giới. Với những sáng kiến này, Việt Nam có thể thu hút nhân tài và đầu tư toàn cầu trên diện rộng, song song với phát triển các chương trình thu hút nhân tài, nhà đầu tư và quan hệ đối tác quốc tế theo chiều sâu, từ đó thể hiện sức hấp dẫn toàn cầu của hệ sinh thái.
Khắc phục và phát huy điểm mạnh cũng là điểm yếu của hệ thống giáo dục Việt Nam: Phát huy mạng lưới nhân tài nhưng cũng đồng Hợp tác với các tổ chức giáo dục để cung cấp các chương trình nuôi dưỡng kỹ năng khởi nghiệp và khuyến khích sự phát triển của các công ty khởi nghiệp.
Xây dựng thương hiệu hệ sinh thái: Phát triển bản sắc thương hiệu mạnh mẽ cho hệ sinh thái khởi nghiệp, có thể bao gồm câu chuyện, biểu tượng và tài liệu tiếp thị hấp dẫn để truyền đạt đề xuất giá trị độc đáo của nó.
Đo lường và đánh giá: Bằng những dữ liệu có độ tin cậy cao về hệ sinh thái, có khả năng cập nhật thường xuyên, liên tục, và sử dụng dữ liệu này để đánh giá và tinh chỉnh các chiến lược và cải thiện hệ sinh thái.
Thúc đẩy sự đa dạng và hòa nhập để Phát triển bền vững: Tạo ra các sáng kiến và chương trình nhằm thúc đẩy sự đa dạng và hòa nhập trong hệ sinh thái, thúc đẩy một môi trường chào đón các cá nhân từ nhiều nguồn gốc khác nhau. Nhấn mạnh các hoạt động bền vững, chẳng hạn như công nghệ xanh hoặc các sáng kiến tác động xã hội, để thu hút các nhà đầu tư và khởi nghiệp có ý thức về môi trường và xã hội.
Bằng cách giải quyết một cách có hệ thống các khía cạnh này và liên tục cải tiến các chiến lược dựa trên phản hồi và số liệu hiệu suất, hệ sinh thái khởi nghiệp có thể xây dựng bản sắc riêng biệt và biến nó thành lợi thế cạnh tranh thu hút nhân tài, nhà đầu tư và cơ hội toàn cầu.□
*Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả
———
1 Người viết sử dụng mốc Dự án đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan được khởi động tại Việt Nam năm 2009 (https://most.gov.vn/vn/tin-tuc/8904/khoi-dong-du-an-doi-moi-sang-tao-viet-nam–phan-lan.aspx)
Bài đăng Tia Sáng số 4/2024
-
Small Data – The Subtle Side of Data

July 28, 2025“The way we place our shoes, organize our fridge, hang our paintings, or even use our toilet paper are all Small Data, that have the potential to reveal an astounding glimpse into who we really are, our true personalities, our needs and desires and hopes.”
– Martin LindstromMuch has been said about Big Data – massive data warehouses capable of analyzing millions of behaviors, predicting market trends, or optimizing supply chains. But have we been talking so much about Big Data that we’ve forgotten the subtle and profound value of Small Data – personal observations, real-world experiences, and seemingly “trivial” feedback that actually touch the core of consumer behavior?
Small Data – When Subtlety Surpasses Technology
Small Data doesn’t require complex algorithms or massive server systems. It emerges from a short conversation with a customer, from the frown on their face when they see the price, from the look in their eyes during a first-time experience, or from recurring questions they ask through support channels.
If you’ve read Small Data: The Tiny Clues That Uncover Huge Trends by branding expert Martin Lindstrom, you might agree that these small fragments of behavior and emotion, when combined with your own insight, experience, and intelligence, can reveal profound truths about people’s needs and desires. And that is a golden opportunity for startups.

Color Study. Squares with Concentric Circles. By Wassily Kandinsky. Nguồn: wassilykandinsky.net
Why is Small Data Especially Important for Startups and SMEs?
Unlike large corporations that can easily invest in technology to analyze Big Data, startups and SMEs often have limited resources. But that doesn’t mean they’re at a disadvantage. On the contrary, they have something Big Data can’t replace: proximity to their customers.
1. Small Data helps create products that target real pain points
A tech startup can fail if it only relies on website traffic data without understanding why users don’t return. But if the founder takes time to talk directly with the first 10 users to find out why they hesitate to use the product – that is Small Data helping the startup refine its design, features, or even business model.
2. Small Data enables truly personalized experiences
You can use Big Data to personalize email marketing based on behavior, but only Small Data tells you what customers truly like or dislike through their words, emotions, and context of use.
Starbucks understood this well. By observing the behavior of younger customers, they realized many didn’t have time to sit long in the café. This led to the rise of the takeaway coffee model and the mobile ordering app – a prime example of innovation born from Small Data.
3. Small Data enables rapid adaptation and creativity
In the startup phase, markets change quickly. Businesses need agility and constant experimentation. Small signals from customers – like abandoning a checkout process or why they chose a competitor – are incredibly valuable for making fast, well-informed decisions.
Big Data vs. Small Data – Where Should You Start?
Big Data gives you a macro view – like a panoramic map of the market.
Small Data offers a micro view – like a compass helping you adjust each step.
Small Data – A Culture, Not Just a Tool
For small businesses, start with Small Data. Once you’ve built solid processes, deeply understand your customers, and begin to scale, investing in Big Data will yield even greater returns.
Small Data isn’t just a data collection technique – it’s a mindset for product development and business growth. It’s about encouraging sales staff to share customer stories. It’s about founders taking customer support calls. It’s about every team member placing the customer at the center of everything they do.
If you truly want to start a business, instead of asking an AI tool “What should I start?”, schedule a meeting with the first few people you believe you can help. Look them in the eye and break the first layer of ice. This Small Data isn’t meant to be stored in a system – it’s meant to mark the day you genuinely cared about how you would serve these people. What will you do so that both they and you can receive the value you both desire?
-
Dữ liệu nhỏ- Khía cạnh tinh tế của dữ liệu

“The way we place our shoes, organize our fridge, hang our paintings, or even use our toilet paper are all Small Data, that have the potential to reveal an astounding glimpse into who we really are, our true personalities, our needs and desires and hopes”
(tạm dịch: Cách chúng ta sắp xếp giày dép, tủ lạnh, treo tranh, hay thậm chí dùng giấy vệ sinh đều là ‘Small Data’ – những chi tiết hé lộ chúng ta là ai, cá tính thật sự và cả khao khát thầm kín) – Martin Lindstrom
Winter Landscape. Wassily Kandinsky. 1909. Nguồn: wassilykandinsky.net
Người ta nói nhiều đến Big Data – những kho dữ liệu khổng lồ có thể phân tích hàng triệu hành vi, dự đoán xu hướng thị trường, hay tối ưu chuỗi cung ứng. Nhưng liệu chúng ta có đang nói quá nhiều về dữ liệu lớn mà quên mất giá trị tinh tế và sâu sắc của dữ liệu nhỏ (Small Data) – những quan sát cá nhân, cảm nhận thực tế, và những phản hồi tưởng chừng “nhỏ nhặt” nhưng lại chạm vào cốt lõi hành vi người tiêu dùng?
Small Data – Khi sự tinh tế vượt lên trên công nghệ
Small Data không cần đến thuật toán phức tạp, cũng không yêu cầu hệ thống máy chủ khổng lồ để xử lý. Nó đến từ một cuộc trò chuyện ngắn với khách hàng, từ cái nhíu mày khi họ xem giá sản phẩm, từ ánh mắt của người tiêu dùng khi trải nghiệm lần đầu, hay từ những thắc mắc lặp đi lặp lại của khách hàng qua các kênh hỗ trợ.
Nếu bạn đã từng đọc cuốn Small Data: The Tiny Clues That Uncover Huge Trends Martin Lindstrom, chuyên gia thương hiệu nổi tiếng có thể bạn cũng đồng ý với tôi rằng, những mảnh nhỏ về hành vi, cảm xúc mà bạn quan sát được, kết hợp với sự tinh tế và giàu có trong trải nghiệm của bạn, hiểu biết của bạn và trí thông minh của bạn sẽ hé lộ những điều tuyệt vời về những nhu cầu, mong muốn của họ. Và đó chính là cơ hội vàng cho các doanh nghiệp khởi nghiệp.
Tại sao Small Data đặc biệt quan trọng với startup và SMEs?
Khác với các tập đoàn lớn có thể dễ dàng đầu tư vào công nghệ để phân tích Big Data, các startup và SMEs thường có nguồn lực hạn chế. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc họ bị “lép vế” – ngược lại, họ có một lợi thế mà Big Data không thể thay thế: sự gần gũi với khách hàng.
1. Small Data giúp tạo sản phẩm đúng “nỗi đau” người dùng
Một startup công nghệ có thể thất bại nếu chỉ dựa vào dữ liệu lượt truy cập website mà không hiểu vì sao người dùng không quay lại. Nhưng nếu người sáng lập dành thời gian nói chuyện trực tiếp với 10 người dùng đầu tiên, tìm hiểu vì sao họ ngần ngại dùng sản phẩm – đó chính là Small Data giúp startup thay đổi thiết kế, tính năng, thậm chí cả mô hình kinh doanh.
2. Small Data giúp xây dựng trải nghiệm cá nhân hóa thật sự
Bạn có thể dùng Big Data để cá nhân hóa email marketing theo hành vi, nhưng chỉ có Small Data mới cho bạn biết khách hàng thực sự thích điều gì, không thích điều gì qua lời nói, cảm xúc và bối cảnh sử dụng sản phẩm.
Starbucks đã hiểu điều này. Khi quan sát hành vi của khách hàng trẻ tuổi, họ nhận ra rằng nhiều người không có thời gian ngồi lâu tại quán. Kết quả là mô hình cà phê mang đi và ứng dụng đặt hàng ra đời – một ví dụ điển hình của việc đổi mới sáng tạo từ Small Data.
3. Small Data giúp nhanh chóng thích nghi và sáng tạo
Trong giai đoạn khởi nghiệp, thị trường thay đổi rất nhanh. Doanh nghiệp cần khả năng thích nghi và thử nghiệm liên tục. Những tín hiệu nhỏ từ khách hàng – từ việc họ bỏ dở một quy trình thanh toán, đến lý do tại sao họ chọn sản phẩm của đối thủ – là thông tin cực kỳ quý giá để đưa ra quyết định nhanh chóng và đúng hướng.
Big Data vs. Small Data – Nên bắt đầu từ đâu?
- Big Data là vĩ mô, cho bạn cái nhìn rộng – như một bản đồ toàn cảnh thị trường.
- Small Data là vi mô, cho bạn cái nhìn sâu – như chiếc la bàn giúp bạn điều chỉnh từng bước đi.
Small Data – Văn hóa, không chỉ là công cụ
Với doanh nghiệp nhỏ, hãy bắt đầu từ Small Data trước. Khi đã có quy trình, hiểu sâu về khách hàng và bắt đầu mở rộng, việc đầu tư vào Big Data sẽ phát huy hiệu quả cao hơn.
Small Data không chỉ là kỹ thuật thu thập dữ liệu – mà còn là một tư duy làm sản phẩm và phát triển doanh nghiệp. Đó là việc khuyến khích nhân viên bán hàng chia sẻ câu chuyện từ khách hàng. Là việc người sáng lập dành thời gian nghe điện thoại hỗ trợ. Là việc từng thành viên trong công ty đều coi khách hàng là trung tâm của mọi hành động.
Nếu bạn thực sự muốn bắt đầu khởi nghiệp, thay vì gõ ngay vào một công cụ AI để tìm câu trả lời tôi nên khởi nghiệp gì, thì hãy đặt lịch gặp với những con người đầu tiên mà bạn tin bạn sẽ là lời giải cho những khó khăn của họ, nhìn vào mắt họ và phá những tảng băng đầu tiên. Dữ liệu nhỏ này không phải để lưu vào máy, mà để đánh dấu một ngày bạn thực sự muốn biết rồi đây mình sẽ phục vụ những con người này như thế nào? Làm gì để họ và bạn cùng nhận về những giá trị mà cả hai cùng muốn nhận?
Bạn có thể đọc thêm bài viết của tôi trên Khoa học Phát triển để phân biệt và có hành động cụ thể
Dữ liệu lớn và dữ liệu nhỏ Hiểu đúng để khai thác đúng
Nguyễn Đặng Tuấn Minh – Khoa học và Phát triển
Có khi nào ta nói quá nhiều tới dữ liệu lớn mà bỏ qua dữ liệu nhỏ?

Dữ liệu lớn và dữ liệu nhỏ. Ảnh: Getty
Dữ liệu – Chìa khóa cho đổi mới sáng tạo trong SMEs
Dữ liệu đã trở thành một trong những tài sản quan trọng nhất của doanh nghiệp trong thời đại số. Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), dữ liệu không chỉ giúp tối ưu hóa vận hành mà còn là nền tảng để đưa ra các quyết định chiến lược, nâng cao trải nghiệm khách hàng và mở rộng quy mô một cách bền vững. Tuy nhiên, không phải mọi dữ liệu đều có giá trị như nhau, và không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ năng lực để khai thác tất cả các loại dữ liệu cùng một lúc.
Sự khác biệt giữa dữ liệu lớn (Big Data) và dữ liệu nhỏ (Small Data) đã trở thành một câu hỏi quan trọng đối với các doanh nghiệp trong quá trình đổi mới sáng tạo. Trong khi Big Data giúp doanh nghiệp nắm bắt xu hướng trên quy mô lớn, Small Data lại cung cấp những thông tin chi tiết, giúp hiểu sâu về hành vi và nhu cầu thực tế của khách hàng. Câu hỏi đặt ra là: doanh nghiệp nhỏ nên khai thác loại dữ liệu nào trước? Và làm thế nào để sử dụng dữ liệu một cách hiệu quả nhất?
Dữ liệu lớn (Big Data) thường gắn với khối lượng thông tin khổng lồ, đến từ nhiều nguồn khác nhau như mạng xã hội, cảm biến IoT, hệ thống thương mại điện tử hay các giao dịch tài chính. Điểm mạnh của dữ liệu lớn nằm ở khả năng phân tích sâu trên quy mô rộng, giúp doanh nghiệp dự đoán xu hướng thị trường, tối ưu hóa vận hành và ra quyết định nhanh hơn.
Dữ liệu nhỏ có thể tạo ra thế mạnh lớn
Một công ty thương mại điện tử có thể sử dụng Big Data để phân tích hành vi mua sắm của hàng triệu khách hàng, từ đó đề xuất sản phẩm cá nhân hóa, tăng tỷ lệ chuyển đổi và cải thiện trải nghiệm người dùng. Các thuật toán trí tuệ nhân tạo (AI) và học máy (Machine Learning) cũng tận dụng Big Data để dự báo nhu cầu hàng hóa, giúp doanh nghiệp tối ưu chuỗi cung ứng và giảm thiểu hàng tồn kho.
Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng sẵn sàng khai thác dữ liệu lớn ngay từ đầu. Việc thu thập, lưu trữ và phân tích Big Data đòi hỏi hạ tầng công nghệ mạnh mẽ, nguồn nhân lực có chuyên môn và một chiến lược rõ ràng. Đối với SMEs có nguồn lực hạn chế, đầu tư vào Big Data có thể là một thách thức lớn nếu không có kế hoạch khai thác cụ thể.
Trái ngược với Big Data, Small Data tập trung vào những chi tiết nhỏ nhưng mang ý nghĩa lớn trong hành vi và thói quen của khách hàng. Thuật ngữ này được Martin Lindstrom – chuyên gia hàng đầu về thương hiệu và tiếp thị – nhấn mạnh trong các nghiên cứu của ông. Theo Lindstrom, nhiều doanh nghiệp đang quá tập trung vào dữ liệu khổng lồ mà bỏ qua những tín hiệu quan trọng từ cuộc sống thực tế của khách hàng.
Small Data không dựa trên các mô hình phân tích phức tạp mà xuất phát từ những quan sát trực tiếp và phản hồi cá nhân. Chính những dữ liệu nhỏ này có thể mang lại những phát hiện đột phá cho doanh nghiệp. LEGO là một ví dụ điển hình. Ban đầu, hãng đồ chơi này định đơn giản hóa các mô hình xếp hình để phù hợp với trẻ em hiện đại, vốn có thời gian chú ý ngắn hơn. Tuy nhiên, sau khi quan sát cách trẻ thực sự chơi với LEGO, họ nhận ra rằng niềm vui lớn nhất của trẻ đến từ việc hoàn thành những thử thách phức tạp. Nhờ vậy, LEGO quyết định giữ nguyên các dòng sản phẩm đòi hỏi sự tỉ mỉ và sáng tạo, giúp công ty thoát khỏi khủng hoảng và đạt mức tăng trưởng ấn tượng.
Một ví dụ khác là Starbucks. Khi quan sát thực tế, họ nhận thấy rằng nhiều khách hàng trẻ tuổi không có thời gian ngồi lâu tại quán để thưởng thức cà phê. Từ đó, thương hiệu này đẩy mạnh mô hình cà phê mang đi (takeaway) và tích hợp các ứng dụng di động để khách hàng đặt hàng trước, giúp họ tiết kiệm thời gian. Chính Small Data đã giúp Starbucks thay đổi mô hình kinh doanh và mở rộng quy mô mạnh mẽ trên toàn cầu.
Nhìn chung, sự khác biệt giữa Big Data và Small Data không chỉ nằm ở quy mô mà còn ở phương pháp khai thác và ứng dụng. Nếu Big Data giúp doanh nghiệp nhận diện xu hướng thị trường và tối ưu hóa quy trình trên diện rộng, thì Small Data giúp doanh nghiệp hiểu sâu về từng cá nhân và sáng tạo ra những sản phẩm thực sự phù hợp với nhu cầu của khách hàng.
Phân loại dữ liệu theo mục đích sử dụng – SMEs cần gì?
Không chỉ phân loại theo quy mô, dữ liệu còn được chia thành nhiều nhóm khác nhau dựa trên mục đích khai thác. Tùy vào chiến lược đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp có thể tập trung vào một hoặc nhiều loại dữ liệu dưới đây:
• Dữ liệu về doanh số và tiếp thị giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chiến dịch quảng cáo và dự đoán xu hướng tiêu dùng. Chẳng hạn, một doanh nghiệp bán lẻ có thể sử dụng dữ liệu này để điều chỉnh chiến lược giá cả và đưa ra các chương trình khuyến mãi phù hợp.
• Dữ liệu phản hồi khách hàng cung cấp cái nhìn sâu sắc về trải nghiệm của người dùng, từ đó giúp cải thiện sản phẩm và dịch vụ. Nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp (startup) đã thành công nhờ liên tục điều chỉnh sản phẩm dựa trên phản hồi trực tiếp từ khách hàng.
• Dữ liệu về chuỗi cung ứng giúp doanh nghiệp dự đoán nhu cầu hàng hóa, giảm thiểu tồn kho và tối ưu hóa quy trình logistics. Các công ty như Zara hay H&M đã tận dụng dữ liệu này để đẩy nhanh tốc độ sản xuất và đáp ứng nhanh chóng nhu cầu thị trường.
• Dữ liệu tài chính hỗ trợ doanh nghiệp kiểm soát dòng tiền, dự báo tài chính và nâng cao khả năng vay vốn. Một doanh nghiệp có hệ thống quản lý tài chính tốt sẽ dễ dàng tiếp cận các nguồn đầu tư hoặc khoản vay từ ngân hàng.
• Dữ liệu nhân sự giúp doanh nghiệp xác định xu hướng tuyển dụng, cải thiện năng suất làm việc và xây dựng đội ngũ bền vững.
Mục đích sử dụng Loại dữ liệu Ứng dụng đổi mới sáng tạo Tăng trưởng doanh thu Dữ liệu Sales, Marketing Dự đoán xu hướng tiêu dùng, tối ưu hóa chiến dịch quảng cáo Nâng cao trải nghiệm khách hàng Dữ liệu phản hồi khách hàng, dữ liệu hành vi Cá nhân hóa dịch vụ, cải thiện sản phẩm dựa trên phản hồi Tối ưu hóa vận hành Dữ liệu doanh nghiệp, chuỗi cung ứng Dự báo nhu cầu hàng tồn kho, tự động hóa quy trình Cải thiện tài chính Dữ liệu doanh thu, dòng tiền Dự báo tài chính, kiểm soát chi phí hiệu quả Tăng hiệu suất nhân sự Dữ liệu KPI, đào tạo, tuyển dụng Xác định xu hướng nhân sự, tối ưu hóa quy trình tuyển dụng -
When Cultural Heritage Becomes the Inspiration for New Business Models

* This article was written during our fortunate journey to Vietnam’s Northwest region—an area rich in culture and filled with vibrant life and smiling faces. Our mission to bring digital transformation to businesses, communities, and individuals in the Northern highlands made us realize a unique perspective: digital transformation is driving a revolution in how we preserve and leverage cultural heritage. Technology is not merely a tool—it opens entirely new approaches.
— Nguyễn Đặng Tuấn MinhOne chilly afternoon in Bản Liền, where the Northwestern mountains blend with the scent of ancient Shan Tuyet tea, a foreign visitor gently stepped into the kitchen of a traditional stilt house. He reached up to take down a smoked bamboo tea tube, carefully split it open, and removed a small handful of dried tea.
Around the flickering kitchen fire, a group of guests gathered, watching as he prepared the tea, poured the hot water, and waited for the first drops. They drank the tea in warmth and silence—no need for elaborate explanations. Their sparkling eyes and the way they savored the aroma conveyed everything. The story of tea extended beyond taste; it touched emotion.
A Tày artisan sewing and embroidering a traditional pouch in Bản Liền, Bắc Hà.
That very moment sparked more than 100 orders of smoked Shan Tuyet tea in just 24 hours after the story was shared on social media. This wasn’t just a business success story—it was living proof of the powerful potential of cultural heritage when combined with digital technology.
Sustainable Business Built on Cultural Heritage
Ethnotek, a social enterprise founded by Jake and Cori Orak in 2010, discovered a way to preserve cultural heritage by creating high-end backpacks featuring handwoven fabrics from artisan communities around the world—including Vietnam, Ghana, Guatemala, India, and Indonesia.
Jake’s inspiration came during a trip to Vietnam in 2007, where he was captivated by the intricate handwoven fabrics crafted by local artisans. Realizing that industrialization could threaten these traditional techniques, he set out to build a business model that not only created economic value but also preserved and celebrated cultural traditions.
Ethnotek’s signature design, “Threads,” consists of interchangeable and customizable fabric panels handcrafted by artisans in Vietnam, Indonesia, Ghana, India, and beyond. This approach not only adds personalization to each product but also enables customers to directly support multiple artisan communities. All products are manufactured in a single workshop in Vietnam, using centralized production to minimize environmental impact and ensure quality.

Using Digital Technology to Preserve and Amplify Culture

Ethnotek doesn’t just utilize traditional craftsmanship—they also integrate digital tools effectively to enhance value:
Developing sustainable products: Ethnotek incorporates recycled materials and uses technology in production and supply chain management to reduce environmental impact—creating culturally rich and environmentally friendly products.
Sharing cultural stories through online platforms: The brand uses social media, its website, and e-commerce platforms to share stories about artisans, traditional weaving techniques, and the journey of each fabric to the customer. This raises awareness of cultural heritage and strengthens the connection between customers and artisan communities.
Fostering a global community: Ethnotek refers to its customers as “tribe members,” encouraging them not only to purchase products but to join a movement for cultural preservation. Technology has connected thousands worldwide around this shared purpose.
Cultural Heritage in the Experience Economy
The stories of Bản Liền and Ethnotek reflect a clear trend: cultural heritage is no longer just something to preserve—it has become a valuable asset in the experience economy. As consumers seek emotional connection and meaningful experiences, traditional cultural values become increasingly precious.
Vietnam, ranked 24th in cultural richness globally (U.S. News & World Report), holds untapped potential. Traditional values such as Shan Tuyet tea in the Northwest, Đông Hồ paintings, and artisanal craft villages can form the basis of unique products and experiences that cater to modern consumer trends.
Digital Technology: Redefining Access to Heritage
Digital transformation is revolutionizing how we preserve and access cultural heritage. Technology is not only a support tool—it offers entirely new perspectives. For example:
- The Louvre has implemented virtual reality (VR) tours, enabling millions to visit remotely.
- The Virtual Angkor project digitally recreates the Angkor Wat empire at its peak, immersing users in stories of the past.
Technologies like VR, AR (augmented reality), and AI not only revive cultural values but also make them more accessible to younger generations accustomed to digital experiences. Businesses based on cultural heritage now have the tools to reach global audiences beyond geographic limitations.
New Business Models Based on Cultural Heritage
Business models aren’t just about creating and capturing value—they are about adapting to societal changes and evolving consumer needs. Based on cultural heritage, new business models are emerging in two main directions:
Creating entirely new models using technology to develop unique products and services: The Venice Time Machine, for example, digitizes 14th-19th century archives into a database—not only for research but also to unlock new potential for digital tourism.
Revitalizing existing models by enhancing cultural value through technology: As seen in Bản Liền, sharing emotional tea experiences on social media immediately created strong consumer engagement through digital channels.

Many of the patterns on Ethnotek’s backpack fabrics are woven by Vietnamese artisans. Photo: Courtesy of EthnotekMeeting the Expectations of Modern Consumers
The rise of Gen Z and Millennials—who demand personalized and digital experiences—is pushing businesses to innovate continuously. These consumers seek not only quality products but meaningful experiences that connect emotionally and culturally.
Bản Liền’s story shows how a simple, authentic cultural moment can move people. Meanwhile, larger initiatives like Virtual Angkor and Venice Time Machine demonstrate that the fusion of technology and culture produces limitless value.
Why Developing Digital Business Models Matters
Building business models rooted in cultural heritage is not just a strategy—it’s a national opportunity. Vietnam, ranked 43rd among 89 dynamic startup ecosystems, has a significant chance to foster creative enterprises based on heritage. This opens the door for small businesses to go global, especially in experiential tourism and handicrafts.
Moreover, clearly demonstrating the economic value of heritage-based business models helps attract investment—both domestic and international. Expanding global reach via digital platforms also enhances Vietnam’s status in the global experience economy.
Lastly, this approach can bring international tech talents to Vietnam, collaborating with local communities to preserve and develop Vietnamese cultural values.
Opportunity at the Intersection of Culture and Technology
The stories from Bản Liền and Ethnotek are just glimpses of the broader potential when cultural heritage meets digital technology and entrepreneurial spirit. With its rich cultural resources, Vietnam can develop business models that not only succeed economically but also preserve and elevate traditional values. This is not just a method of heritage conservation—it is a path for Vietnam to thrive and assert its role in the global economy.
Vietnam—with its diversity of tangible and intangible heritage—can learn from Ethnotek to build new business models. Craft villages like those weaving brocade in the Northwest, Bat Trang ceramics, or Van Phuc silk are valuable assets for creating high-value, personalized products. When integrated with digital technology—e.g., e-commerce, AR/VR, or digital marketing—these products can not only reach domestic markets but expand globally.
Risks and Challenges to Consider
However, the use of digital technology to exploit cultural heritage also presents challenges—particularly in the area of intellectual property:
Lack of clear legal frameworks: In Vietnam, IP protection in the digital cultural space is still underdeveloped, leaving small businesses and individuals vulnerable to disputes or lawsuits.
Risk of copyright infringement: Digitized cultural heritage can be easily copied and used illegally by third parties, leading to economic losses and diminished authenticity.
Ownership disputes: Cases have emerged globally where intangible heritage was copyrighted by foreign entities, complicating the protection of artisan community rights.
Reference:
[1] https://floratheexplorer.com/ethnotek-backpacks-review/
[2] https://weworkremotely.com/company/ethnotek
[3] https://wanderlustandlipstick.com/blogs/travelpurpose/2013/08/13/gear-re…
[4] https://impakter.com/ethnotek-bags-win-win-sustainable-terms/
[5] https://www.zoominfo.com/c/ethnotek-bags/348703448
[6] https://ethnotek.com/blogs/news/the-big-story-10-years-of-ethnotek
[7] https://ethnotek.com
[8] https://ethnotek.com/pages/about-ethnotek
[9] https://www.causeartist.com/jake-orak-founder-ethnotek/
[10] https://www.kajimundo.com/showcase-directory/ethnotek
Nguồn: https://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/khi-di-san-van-hoa-tro-thanh-nguon-cam-hung-cho-mo-hinh-kinh-doanh-moi/2024121909301221p1c160.htm -
Les fils parfumés du temps

10 janvier 2022—Nguyễn Đặng Tuấn Minh—
J’ai choisi ce titre pour ce petit écrit alors que mes doigts se sont mis à taper instinctivement sur le clavier, dans un état de calme absolu, comme si je me tenais à un carrefour animé quelque part à Hanoï…

La ville est remplie de couleurs, accompagnées de parfums uniques, à la fois réguliers au fil des saisons et empreints de spontanéité, de séduction et de profondeur…
Hanoï au printemps embaume la terre et le ciel – chaque rue porte l’odeur persistante du renouveau. La sève printanière monte dans les bourgeons, peignant le mois de janvier de vert éclatant. Dans cet espace empli de murmures de renouveau, les fleurs de chinaberry s’épanouissent, immobiles, dans un coin du ciel, en une teinte violette argentée. Elles se dispersent en pluie fine, déposant leurs petites corolles sur le sol, éveillant chez une fillette le désir d’en ramasser plein les mains pour mieux contempler ce violet étrange de son enfance. Et un jour, à Paris, parmi les mille couleurs florales des pays tempérés, un regard se pose soudainement sur une grappe de fleurs violettes en attente, révélant une surprise – un arbre de chinaberry en pleine floraison. Le cœur s’émeut. On dit que l’on peut emporter une image, voire une fleur, mais jamais un parfum… Alors, restons un instant sous les branches de chinaberry, pour savourer l’étreinte fidèle d’un ami sincère – un soupçon de la patrie lointaine qui semble nous avoir suivis jusqu’ici. Il n’y a pas de bruine à Paris, mais un coin de ciel printanier semble s’être attardé quelque part…
À la fin du printemps et au début de l’été, les rues de Hanoï sont empreintes du parfum sucré des fleurs de manguier et de longanier, attirant papillons et abeilles. Ces rues donnent à chaque promenade nocturne une douceur inattendue. Mais l’arbre que j’aime particulièrement en cette saison, c’est le “dâu da” – un arbre de compassion jusque dans sa silhouette et son parfum. Sa cime ronde et verdoyante abrite les vieilles maisons, les ateliers de métal où les ouvriers ont le visage couvert de suie, et les modestes stands de thé des quartiers ouvriers. Le dâu da pousse partout, sans prétention, prêt à offrir son ombre bienveillante. Devant un garage, une cantine, une école où les enfants rient en jouant, il veille. Son parfum pur emplit les matins d’énergie neuve. Je l’aime car il a bercé mon enfance paisible… Le goût acidulé du bouillon d’été dans lequel on faisait infuser ses feuilles. Le jeu d’imiter les grands en mâchant ses feuilles comme du bétel. Et ce souvenir d’un voisin grincheux coupant une branche débordant sur sa cour – nous avons pleuré tout un jour avant d’oser demander à récupérer la branche en fleurs. La résine perlait encore, les fleurs attiraient les scarabées verts aux ailes brillantes. Et c’était suffisant pour tisser une enfance féerique…

On sait que l’été amène couleurs, fruits, et ces ondées de fin d’après-midi rafraîchissantes… Parfois, une odeur subite émerge du passé, touchant doucement notre cœur… C’est celle de l’ylang-ylang, émanant d’une grappe mûre cachée dans le feuillage, sur le chemin de Văn Miếu ou Nguyễn Thái Học, près du musée des Beaux-Arts.
Sous la pluie du changement de saison, rares sont ceux qui pensent aux parfums. Pourtant, un brin d’attention suffit : toujours sur Nguyễn Thái Học, vers Phan Đình Phùng, un parfum étrange de feuilles mouillées se libère – ni fleur, ni fruit, mais celui des feuilles écrasées par les roues des véhicules. Elles laissent un sillage noble, unique, à cette portion de rue.
Les fleurs de sau (dracontomelon) recouvrent les trottoirs de leurs pétales blancs, retenant les passants sous leurs averses minuscules. On ne peut les oublier : un soupçon âcre mêlé à l’acidité du fruit et à la douceur légère du nectar attirant abeilles et papillons. En passant à vélo sous les feuillages des rues Trần Phú, Hoàng Diệu, Hai Bà Trưng, le cœur s’apaise. Et lorsque les fleurs tombent, les jeunes fruits apparaissent… Hanoï entre alors doucement dans une nouvelle transition…
Puis l’automne s’installe, silencieux, avec les fragrances sucrées des fleurs de lait (hoa sữa) sur Nguyễn Du, Nguyễn Chí Thanh et d’autres rues récentes. L’automne hanoiéen offre un espace à la fois éveillé et rêveur, empreint de nostalgie, de fraîcheur et de tendresse. Seule Hanoï a ses fleurs de lait d’automne, enivrantes mais jamais oppressantes. Leurs parfums se mêlent à celui du ylang-ylang d’une pagode ancienne, du jasmin des villas françaises…

Et n’oublions pas les porteurs de “cốm” – riz vert grillé – qui arpentent les rues en automne. Le cốm de Vòng, enveloppé dans des feuilles de lotus, lié de paille dorée, est devenu rare car les champs ont disparu. Thạch Lam disait que le cốm va de pair avec les fruits rouges… Pour moi, c’est la feuille de lotus qui émeut le plus – elle incarne la délicatesse du ciel et de la terre, sa couleur évoque l’immensité des étangs en fleurs, son parfum celui de la nature pure… Moins de porteurs dans les rues, la saison s’éclipse discrètement…
L’hiver arrive avec sa fraîcheur douce, ses matins brumeux. Et dans ce froid, un parfum singulier émerge : celui des fleurs d’acacia. Les tiges fines et gracieuses de l’arbre, ses feuilles délicates, laissent tomber un tapis jaune sur l’herbe.
Xuân Diệu écrivait : « le printemps est pour ceux qui cherchent l’amour dans la chaleur, l’automne pour ceux qui cherchent la tendresse dans le froid »… Et l’automne-hiver, lui, nous saisit sans prévenir. L’odeur de l’acacia évoque soudain l’envie de fredonner le refrain d’”Un jour de neige” d’Elsa – pédalant dans l’immensité blanche, on imagine quelqu’un qui nous attend au bout du chemin (*), comme dans un rêve doux et flou…
Il existe aussi des rues où le parfum ne vient pas des plantes, mais de la rue elle-même. Thanh Niên – cette rue pleine de mystères et de rendez-vous amoureux – embaume la fleur de magnolia (ngọc lan), discrète mais divine. Les marchands de fleurs s’y rassemblent, croyant que le ngọc lan est un cadeau sacré, idéal pour les amoureux. Si petite qu’elle tient dans la paume, si pure qu’elle entoure d’une bulle parfumée les murmures échangés au bord du lac… Peut-être aussi que cette rue recueille l’écho des cloches de la pagode Trấn Quốc, les encens du temple Quán Thánh – où le ngọc lan est toujours présent sur les plateaux d’offrandes, mêlé aux prières éternelles…

Et soudain, au détour d’un matin, un parfum d’herbe fraîche vous ramène à l’enfance… L’odeur de la terre retournée pour planter de nouvelles fleurs, le souvenir de la campagne, des champs…
Ainsi, les rues se croisent comme les saisons se succèdent… et les parfums s’enchaînent, tissant dans notre mémoire de fins fils olfactifs… Parfois oubliés, parfois revenus, toujours capables de faire vibrer l’âme…
« La couleur du temps n’est pas verte. La couleur du temps est violette. Le parfum du temps n’est pas entêtant. Le parfum du temps est léger. »
— La couleur du temps, Đoàn Phú Tứ(*) « …comme ce quelqu’un qui vient m’attendre, au bout du chemin. » – Jour de neige, Elsa
-
Khi di sản văn hóa trở thành nguồn cảm hứng cho mô hình kinh doanh mới

*Bài viết được thực hiện khi chúng tôi may mắn được tiếp xúc với khu vực Tây Bắc giàu có về văn hóa, cuộc sống rực rỡ với sắc màu và nụ cười. Hành trình mang chuyển đổi số lên với doanh nghiệp, cộng đồng, những con người ở miền núi phía Bắc khiến chúng tôi nhận ra rằng, khía cạnh độc đáo của chuyển đổi số nếu biết khia thác chính là: Chuyển đổi số đang tạo ra một cuộc cách mạng trong cách chúng ta bảo tồn và khai thác di sản văn hóa. Công nghệ không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn mở ra những cách tiếp cận hoàn toàn mới
—Nguyễn Đặng Tuấn Minh—

Trong một buổi chiều se lạnh tại Bản Liền, nơi núi rừng Tây Bắc hòa quyện cùng hương trà Shan tuyết cổ thụ, một người khách nước ngoài cẩn thận bước đến gác bếp của căn nhà sàn truyền thống. Ông đưa tay nhấc xuống một ống trà tre hun khói, nhẹ nhàng chẻ ống lam, và lấy ra một ít trà khô.
Trong bếp, ánh lửa bập bùng, nhóm khách quây quần xung quanh, quan sát ông cho trà vào ấm, rót nước, và chờ đợi những giọt đầu tiên. Mọi người thưởng trà trong sự ấm cúng, không cần nhiều ngôn ngữ, không cần thuyết minh cầu kỳ. Chỉ bằng ánh mắt đầy thích thú, cách cảm nhận mùi hương trà của họ đã truyền tải tất cả. Câu chuyện về trà không chỉ dừng lại ở vị giác mà còn chạm đến cảm xúc.
Nghệ nhân khâu, thêu túi Tày tại Bản Liền, Bắc Hà
Chính khoảnh khắc này đã mang lại hơn 100 đơn hàng trà Shan tuyết ống lam gác bếp chỉ trong vòng 24 giờ sau khi câu chuyện được chia sẻ trên mạng xã hội. Đây không chỉ là câu chuyện về sự thành công trong kinh doanh, mà còn là minh chứng sống động cho tiềm năng của văn hóa di sản khi được kết hợp với công nghệ số.
Kinh doanh bền vững dựa trên di sản văn hóa
Ethnotek, một công ty trách nhiệm xã hội do Jake và Cori Orak sáng lập vào năm 2010, đã tìm ra cách bảo tồn di sản văn hóa thông qua việc sản xuất túi xách cao cấp tích hợp các loại vải thủ công từ các cộng đồng nghệ nhân trên khắp thế giới, bao gồm Việt Nam, Ghana, Guatemala, Ấn Độ, và Indonesia.
Cảm hứng thành lập Ethnotek bắt nguồn từ chuyến du lịch của Jake Orak đến Việt Nam vào năm 2007, nơi ông bị mê hoặc bởi những loại vải thủ công tinh xảo được dệt bởi các nghệ nhân bản địa. Nhận thấy nguy cơ các kỹ thuật truyền thống này có thể biến mất do công nghiệp hóa, ông quyết định xây dựng một mô hình kinh doanh không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn duy trì và phát huy các di sản này.
Ethnotek nổi bật nhờ thiết kế Threads, những tấm vải có thể thay đổi và tùy chỉnh gắn trên mặt ngoài của balo, do chính các làng nghề thủ công ở Việt Nam, Indonesia, Gahna, Ấn Độ…dệt nên. Ý tưởng này không chỉ tạo nên sản phẩm có tính cá nhân hóa cao mà còn cho phép khách hàng trực tiếp hỗ trợ nhiều cộng đồng nghệ nhân khác nhau. Các sản phẩm của Ethnotek được sản xuất tại một xưởng duy nhất ở Việt Nam, tận dụng quy trình tập trung để giảm thiểu tác động môi trường và đảm bảo chất lượng.
Ứng dụng công nghệ số để bảo tồn và khai thác văn hóa

Ethnotek không chỉ tận dụng thủ công truyền thống mà còn kết hợp hiệu quả với công nghệ số để gia tăng giá trị.
Truyền tải câu chuyện văn hóa qua các nền tảng trực tuyến: Thương hiệu sử dụng mạng xã hội, trang web, và các nền tảng thương mại điện tử để chia sẻ câu chuyện về các nghệ nhân, các kỹ thuật dệt truyền thống, và hành trình đưa các tấm vải đến tay khách hàng. Điều này giúp nâng cao nhận thức về di sản văn hóa, đồng thời tạo sự gắn kết giữa khách hàng và các cộng đồng nghệ nhân.
Tạo cảm giác cộng đồng toàn cầu: Ethnotek gọi khách hàng của mình là “tribe members” (thành viên bộ lạc), khuyến khích họ không chỉ mua sản phẩm mà còn tham gia vào phong trào bảo tồn văn hóa. Công nghệ đã giúp kết nối hàng nghìn người trên khắp thế giới với mục tiêu chung là duy trì di sản văn hóa thông qua các sản phẩm hữu dụng và bền vững.
Phát triển sản phẩm bền vững: Ethnotek sử dụng các vật liệu tái chế, tận dụng công nghệ trong sản xuất và quản lý chuỗi cung ứng để giảm thiểu tác động môi trường, từ đó tạo ra sản phẩm không chỉ có giá trị văn hóa mà còn mang tính thân thiện với môi trường.
Di sản văn hóa trong nền kinh tế trải nghiệm
Câu chuyện ở Bản Liền và Ethnotek phản ánh một xu hướng rõ rệt: di sản văn hóa không còn chỉ là thứ để bảo tồn mà đã trở thành một phần quan trọng trong nền kinh tế trải nghiệm. Khi người tiêu dùng không chỉ mua sản phẩm mà còn tìm kiếm những trải nghiệm gắn kết cảm xúc, các giá trị văn hóa truyền thống lại càng trở nên quý giá.
Việt Nam, với vị trí thứ 24 trên thế giới về độ giàu có về di sản (theo U.S. News & World Report), sở hữu một kho tàng tiềm năng chưa được khai phá hết. Những giá trị truyền thống như trà Shan tuyết ở Tây Bắc, tranh Đông Hồ, hay các làng nghề thủ công mỹ nghệ đều có thể trở thành nền tảng để xây dựng các sản phẩm và trải nghiệm độc đáo, đáp ứng xu hướng tiêu dùng hiện đại.
Công nghệ số: Tái định nghĩa cách tiếp cận di sản
Chuyển đổi số đang tạo ra một cuộc cách mạng trong cách chúng ta bảo tồn và khai thác di sản văn hóa. Công nghệ không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn mở ra những cách tiếp cận hoàn toàn mới. Ví dụ, Bảo tàng Louvre đã triển khai thực tế ảo (VR) để cho phép hàng triệu người trên toàn thế giới tham quan từ xa, trong khi dự án Virtual Angkor tái hiện thành phố Angkor Wat thời kỳ đỉnh cao, giúp người dùng không chỉ khám phá lịch sử mà còn hòa mình vào những câu chuyện của quá khứ.
Những công nghệ như VR, AR (thực tế tăng cường), và AI không chỉ làm sống lại các giá trị văn hóa mà còn mang chúng đến gần hơn với thế hệ trẻ, những người vốn quen thuộc với các trải nghiệm số hóa. Các doanh nghiệp dựa trên nền tảng văn hóa di sản cũng từ đó mà mở rộng khả năng tiếp cận khách hàng, vượt qua ranh giới địa lý để vươn ra toàn cầu.
Mô hình kinh doanh mới trên nền tảng văn hóa di sản
Mô hình kinh doanh không chỉ là cách tạo ra và nhận về giá trị, mà còn là cách thích nghi với sự thay đổi của xã hội và nhu cầu của người tiêu dùng. Trên nền tảng văn hóa di sản, các mô hình kinh doanh mới đang dần hình thành với hai hướng chính:
Thứ nhất, làm mới những mô hình kinh doanh hiện tại bằng cách tăng cường giá trị văn hóa thông qua công nghệ. Như trong câu chuyện của Bản Liền, việc chia sẻ những khoảnh khắc thưởng trà đầy cảm xúc qua mạng xã hội đã ngay lập tức tạo nên sự kết nối mạnh mẽ với người tiêu dùng bằng công nghệ số.
Thứ hai, phát triển các mô hình kinh doanh hoàn toàn mới, sử dụng công nghệ để tạo ra những sản phẩm và dịch vụ độc đáo. Venice Time Machine là một ví dụ tiêu biểu, khi dự án này chuyển đổi toàn bộ tài liệu lịch sử từ thế kỷ 14-19 thành cơ sở dữ liệu số, không chỉ phục vụ nghiên cứu mà còn mở ra tiềm năng lớn cho du lịch số.

Nhiều hoa văn trên các tấm vải gắn vào balo của Ethnotek là do các nghệ nhân Việt Nam dệt. Ảnh: NVCCĐáp ứng kỳ vọng của người tiêu dùng hiện đại
Sự trỗi dậy của thế hệ Gen Z và Millennials, với yêu cầu cao về trải nghiệm cá nhân hóa và số hóa, đang thúc đẩy các doanh nghiệp phải sáng tạo liên tục. Những người tiêu dùng này không chỉ tìm kiếm sản phẩm chất lượng mà còn muốn những trải nghiệm có giá trị sâu sắc, kết nối văn hóa và cảm xúc.
Câu chuyện của Bản Liền chính là một minh họa sống động cho việc làm thế nào một trải nghiệm đơn giản nhưng đậm chất văn hóa lại có thể chạm đến trái tim khách hàng. Trong khi đó, những sáng kiến lớn hơn như Virtual Angkor hay Venice Time Machine chỉ ra rằng khi công nghệ hòa quyện cùng văn hóa, giá trị mà nó mang lại là không giới hạn.
Tầm quan trọng của phát triển mô hình kinh doanh số
Phát triển mô hình kinh doanh trên nền tảng văn hóa di sản không chỉ là một chiến lược kinh doanh mà còn là yếu tố mang tính chiến lược quốc gia. Việt Nam, đứng thứ 43 trong 89 quốc gia có hệ sinh thái khởi nghiệp năng động, đang có cơ hội lớn để thúc đẩy các doanh nghiệp sáng tạo dựa trên di sản văn hóa. Việc này mang lại nhiều lợi ích như tạo cơ hội cho các doanh nghiệp nhỏ vươn ra quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch trải nghiệm và sản phẩm thủ công mỹ nghệ.
Mặt khác, thu hút vốn đầu tư từ cả trong và ngoài nước, gia tăng giá trị kinh tế của di sản sẽ hiệu quả hơn khi thấy rõ những giá trị kinh tế do những mô hình kinh doanh này mang lại. Viêc mở rộng quy mô tiếp cận khách hàng toàn cầu thông qua các nền tảng số, sẽ giúp nâng cao vị thế quốc gia trong nền kinh tế trải nghiệm toàn cầu.
Cuối cùng, chiến lược này sẽ tạo cơ hội cho các tài năng công nghệ quốc tế đến Việt Nam để thúc đẩy khai thác và bảo tồn các giá trị văn hóa cùng cộng đồng người Việt và người yêu văn hóa Việt Nam.
Cơ hội từ văn hóa và công nghệ
Câu chuyện từ Bản Liền và Ethnotek chỉ là những ví dụ nhỏ trong bức tranh lớn về tiềm năng của di sản văn hóa khi được kết hợp với công nghệ số và tinh thần khởi nghiệp. Với nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, Việt Nam có thể tạo nên những mô hình kinh doanh không chỉ thành công về mặt kinh tế mà còn giúp bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống. Đây không chỉ là cách để gìn giữ di sản, mà còn là con đường để Việt Nam vươn xa, khẳng định vị thế trong nền kinh tế toàn cầu.
Việt Nam, với sự đa dạng về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, có thể học hỏi từ Ethnotek để phát triển các mô hình kinh doanh mới. Các làng nghề thủ công như dệt thổ cẩm ở Tây Bắc, gốm Bát Tràng, hay lụa Vạn Phúc là nguồn tài nguyên quý báu để tạo ra các sản phẩm mang tính cá nhân hóa và giá trị cao. Khi các sản phẩm này được tích hợp với công nghệ số, chẳng hạn qua thương mại điện tử, công nghệ AR/VR, hay các chiến dịch marketing trực tuyến, chúng không chỉ tiếp cận được thị trường nội địa mà còn vươn xa đến khách hàng quốc tế.
Những rủi ro và thách thức cần lưu ý
Tuy nhiên, việc tận dụng công nghệ số để khai thác văn hóa di sản cũng đặt ra nhiều thách thức, đặc biệt là về vấn đề sở hữu trí tuệ:
Nguy cơ vi phạm bản quyền: Khi các di sản văn hóa được số hóa, chúng dễ bị sao chép và sử dụng trái phép bởi bên thứ ba. Điều này không chỉ gây tổn thất về kinh tế mà còn làm suy giảm giá trị của di sản gốc.
Tranh chấp quyền sở hữu: Một số trường hợp trên thế giới đã ghi nhận tình trạng các di sản phi vật thể bị đăng ký bản quyền bởi tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, gây khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi của các cộng đồng nghệ nhân.
Thiếu khung pháp lý rõ ràng: Tại Việt Nam, vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực văn hóa số vẫn còn lỏng lẻo, khiến các doanh nghiệp nhỏ hoặc cá nhân dễ rơi vào tình trạng tranh chấp hoặc bị kiện tụng.
Tài liệu tham khảo:
[1] https://floratheexplorer.com/ethnotek-backpacks-review/
[2] https://weworkremotely.com/company/ethnotek
[3] https://wanderlustandlipstick.com/blogs/travelpurpose/2013/08/13/gear-re…
[4] https://impakter.com/ethnotek-bags-win-win-sustainable-terms/
[5] https://www.zoominfo.com/c/ethnotek-bags/348703448
[6] https://ethnotek.com/blogs/news/the-big-story-10-years-of-ethnotek
[7] https://ethnotek.com
[8] https://ethnotek.com/pages/about-ethnotek
[9] https://www.causeartist.com/jake-orak-founder-ethnotek/
[10] https://www.kajimundo.com/showcase-directory/ethnotek
Nguồn: https://khoahocphattrien.vn/khoa-hoc/khi-di-san-van-hoa-tro-thanh-nguon-cam-hung-cho-mo-hinh-kinh-doanh-moi/2024121909301221p1c160.htm -
Những sợi hương thời gian

Tôi chọn cho bài viết nhỏ tiêu đề này khi những ngón tay tự động gõ trên bàn phím trong một trạng thái tự nhiên và tĩnh lặng tuyệt đối, như thể đang đứng trước ngã tư xôn xao nào đó của Hà Nội…
Thành phố có rất nhiều sắc màu và đi kèm nó là những mùi hương không thể trộn lẫn, vừa đều đặn theo mùa, vừa đầy ngẫu hứng, quyến rũ và mênh mang…
Hà Nội vào xuân có hương của đất trời nên mỗi con đường là mùi hương của xuân còn sót lại. Nhựa xuân tràn lên lộc cây và cho tháng giêng những sắc màu xanh biếc. Trong không gian của những mới mẻ thì thầm, hoa xoan tĩnh lặng một góc trời bằng một màu tím bàng bạc. Hoa xoan thả vào không gian mưa bụi giăng giăng lớp lớp những bông hoa bé xíu khiến cô bé nào chỉ muốn gom thật nhiều hoa để thấy rõ hơn màu tím kỳ lạ ấy trong bàn tay xinh ngày thơ bé. Để rồi một ngày kia, ở Paris xa xôi, giữa vô vàn sắc màu của hoa xứ ôn đới, bỗng bất chợt bắt gặp một ánh mắt mơ màng của những chùm hoa tím đợi chờ mang cho ai đó một điều bất ngờ- một cây xoan đang kỳ ra hoa, bỗng thấy lòng mình xúc động bồi hồi. Có ai đó bảo rằng, bạn có thể mang đi một hình ảnh, thậm chí cả một bông hoa nhưng bạn không thể lưu giữ được một mùi hương hay mang theo nó… Vậy hãy đứng lặng yên một lúc dưới tán hoa xoan để tận hưởng vòng tay thân thiết của một người bạn chân thành, một chút gì đó của quê hương như theo chân tới tận miền đất xa xôi này. Ở Paris không có mưa bụi, nhưng có một khoảng trời mùa xuân đang đọng lại đâu đây…Hà Nội cuối xuân đầu hạ có những con đường của hoa xoài hoa nhãn, mùi hương ngọt ngào để quyến rũ bướm ong lại qua. Những con đường ấy tạo cho những cuộc dạo chơi về đêm lúc nào cũng đầy bất ngờ thanh tao và êm ái. Có một loài cây khiến tôi yêu thích hơn cả mùa này, có lẽ là hoa dâu da. Trong cái sắc tím quyến rũ đặc biệt của bằng lăng, sắc đỏ chói ngời bừng lên trong nắng hạ và hương thơm hăng hắc của phượng vĩ, có một màu trắng giản dị thật dịu dàng. Tôi gọi loài cây này là một loài cây bao dung, bao dung từ dáng vẻ đến hương thơm. Tán cây to tròn và xanh mát bao bọc lấy những nếp nhà nhỏ cũ kỹ, những xưởng nhôm sắt có những người thợ mặt mũi lấm lem và cả những quán nước nhỏ đầu một xóm trọ nghèo. Cây dâu da không kén đất, chúng có thể mọc ở bất cứ nơi đâu và sẵn sàng che chở cho bất cứ ai cần đến một bóng râm ngày hè nóng bức. Một quán ăn, một garage ôtô, một xưởng rèn và cả một cổng trường nơi có những cô bé cậu bé chơi đá cầu cười đùa vui vẻ. Hương hoa dâu da tinh khiết đến kỳ lạ khiến ta muốn hít căng lồng ngực để lấy thêm năng lượng của ngày mới mỗi sớm mai.
Một buổi sớm mùa hè, thi thoảng đi qua một con đường, thấy mùi thơm dịu ngọt ấy nhìn quanh để kiếm tìm, thế nào cũng thấy một sắc dâu da trắng ngọt thơm trìu mến. Tôi yêu hoa dâu da có lẽ vì tuổi thơ tôi cũng êm êm trôi cùng loài hoa này trong vòm lá. Nhớ vị dôn dốt chua chua của bát nước rau muống luộc thả lá dâu da mỗi bữa cơm ngày hè, không giống lá me hay quả sấu, lá dâu da cho bát canh mùi thơm nhẹ mát lành. Nói đến lá dâu da thấy ứa nước miếng khi nghĩ lại trò chơi bắt chước bà ăn trầu của những đứa trẻ, lá dâu da hiền lành nên bày cho bọn trẻ con trò chơi ăn được… Nhớ câu chuyện có người hàng xóm khó tính chặt cành dâu da nhà mình chìa sang sân nhà họ, mấy chị em thương cây khóc suốt một ngày, cuối cùng đánh liều sang xin lại cành dây đang ra hoa bị chặt bỏ. Nhựa cây ứa ra, hương hoa vẫn thơm mát lôi kéo những con cánh cam thân xanh óng, rúc vào đám hoa trắng tinh. Thế thôi cũng đủ làm nên một tuổi thơ thần tiên…
Vẫn biết mùa hạ về với bao nhiêu sắc màu, cây trái, một cơn mưa chiều xuống phố mang lại cái dịu dàng mát mẻ…Chỉ một thoáng trôi qua, tim ta chợt rung động nhẹ nhàng tìm trong ký ức một mùi hương đang hiện hữu…Phút giây đó thật xúc động và thiêng liêng… Mùi hoàng lan… tỏa ra từ một chùm hoa nhỏ nào vừa kịp chín, giấu mình trong vòm lá xanh khi đi qua đoạn đường Văn Miếu, Nguyễn Thái Học, gần Viện Bảo tàng Mỹ thuật.

Đi trong cơn mưa giao mùa cuối xuân đầu hạ, ít ai còn tâm trí để nghĩ đến những mùi hương, nhưng nếu chỉ để ý một chút thôi sẽ thấy cũng trên đường Nguyễn Thái Học, đoạn trường Phan Đình Phùng, có một mùi hương rất lạ lan tỏa trong không gian, cho ta cảm giác rất tỉnh táo và thấy muốn thân thiết gần gũi. Không hiểu mùi hương ấy ở đâu ra, không phải hoa, không phải quả chín mà đó là mùi của những chiếc lá. Mưa dạo qua thành phố thả lên vệ đường những vạt lá vừa xanh vừa vàng dài như một nét phết màu đầy cảm hứng của gió. Những chiếc xe lăn bánh qua, dù vô tình hay khẽ khàng không muốn làm đau những chiếc lá thì lá hồi cũng bị nát dưới những làn xe đi lại và gửi lại một mùi hương rất quý phái và tạo ra một hương sắc riêng của một đoạn đường, khiến ta muốn hít tận sâu lồng ngực mãi không thôi trước khi chuyển qua một mùi hương khác.
Hoa sấu rải trắng những con phố và cố tình níu chân những người đi đường bằng những cơn mưa hoa bé bỏng. Không thể lãng quên mùi hoa sấu, bởi có chút gì hăng hắc nhưng chua chua của quả sấu, lại có vị ngòn ngọt êm êm của hoa để gọi ong bướm đến. Hoa sấu làm tim ta đập thật bình yên theo bánh xe đạp lăn trên đường Trần Phú, Hoàng Diệu, Hai Bà Trưng. Khi hoa sấu rụng hết từ đám lá xanh non, những quả sấu nhỏ dần nhú ra rồi sẫm màu cũng là lúc Hà Nội bắt đầu cho những phút chuyển mùa…
Thế rồi mùa thu âm thầm đến trong hương sữa ngọt ngào của đường Nguyễn Du, Nguyễn Chí Thanh và những con đường mới. Thu cho Hà Nội cái không gian lãng mạn nửa tỉnh nửa mơ, nửa hoài niệm về quá khứ, nửa nhẹ nhõm lạ kỳ với thực tại bằng không gian man mát lạnh lạnh. Có lẽ vì thế mà người Hà Nội yêu hoa sữa, vì trong sương đêm, hoa sữa vẫn nồng nàn, vẫn lãng mạn mà không khiến người ta ngột ngạt. Chỉ ở Hà Nội, hoa sữa mới là hoa sữa mùa thu…Thu ưu ái cả Hà Nội bằng mùi hoàng lan của một ngôi chùa cổ nằm khuất sâu trong con phố cổ buôn bán tấp nập, bằng mùi dạ hương của những căn biệt thự Pháp cổ lẫn đâu đó trong lòng thành phố…
Sẽ là thiếu sót nếu quên đi mất rằng, mỗi con đường của Hà Nội mùa thu đều có một gánh cốm vào mùa. Cốm Vòng theo bước chân chị vào phố, e ấp trong lá sen thơm phức và nhẹ nhàng nằm trong gói cốm vuông với thân rơm vàng ươm buộc hờ cho dù giờ người làng Vòng không còn đất để trồng nếp làm cốm. Thạch Lam gọi Hồng cốm tốt đôi, còn tôi đặc biệt xúc động mỗi khi ngắm nhìn chiếc lá sen ấp ủ hương cho cốm, dường như cái tinh tế của đất trời đều quyện lại nơi đây. Màu lá sen cho ta cái mênh mang của hồ sen vào mùa hoa nở, cho tâm hồn ta sự thanh cao trong lành, mùi cốm cho ta cái gần gũi nhẹ nhàng và từ tốn của một thứ quà quê nhưng sang trọng và ý nhị…Ngớt đi bóng của những đôi quang gánh bán cốm trên phố, mùa lặng lẽ sang…Thu – đông đến với thành phố bằng cái lạnh ngọt ngào, bằng mỗi buổi sớm mai sương mờ. Và trong cái lạnh ấy, ta bắt gặp một mùi hoa kỳ lạ – mùi hoa keo. Những thân keo mỏng mảnh thanh thoát với những chiếc lá cũng thanh tú dịu dàng gieo xuống cỏ một sắc vàng.

Xuân Diệu từng bảo rằng, “xuân vì ấm mà người ta cần tình, thu vì lạnh mà người ta cần đôi”, còn thu đông thì cho ta cảm giác xốn xang không hẹn trước. Bắt gặp hoa keo đầu mùa cũng thấy lòng muốn hát lên giai điệu của câu chuyện nhỏ của của Elsa trong “Ngày tuyết rơi” (Jour de neige), cứ đạp xe trong mênh mang tuyết trắng, dường như đang có ai đợi tôi phía cuối con đường (*), quả thật tất cả như một giấc mơ êm nhẹ tỏ mờ…
Có những mùi hương đến với con đường không phải vì có loài cây có hương thơm nào được trồng ở đó, mà bởi vì tự bản thân con đường tạo ra cho nó những hương thơm riêng. Đường Thanh Niên- Con đường đầy những bí mật thầm kín và lãng mạn của tình yêu, của những buổi hẹn hò ven hồ trong lan man mùi hương ngọc lan dịu nhẹ… Không biết tự bao giờ, con đường này nhiều người bán hoa ngọc lan đến thế, có lẽ vì người bán hoa tin rằng, hoa ngọc lan là một món quà ý nhị và thiêng liêng, nhỏ nhẹ và tinh tế để những cặp đôi tặng nhau khi đi dạo ven hồ. Ngọc lan đủ nhỏ để đựng trong lòng bàn tay xinh, đủ thanh khiết để những đôi lứa mới yêu nhau trao cho nhau tình cảm đẹp đẽ mơ màng, và đủ để tạo ra một chút hương bao bọc lấy không gian riêng của hai người khi họ cùng chuyện trò bên mặt nước hồ sóng sánh… Cũng có thể, con đường này chứa đựng những thanh âm sâu xa của tiếng chuông chùa Trấn Quốc, mùi hương trầm của đền Quán Thánh mà hương ngọc lan thì luôn linh thiêng trên mỗi đĩa hoa bà dâng lên đất trời, quyện trong lời nguyện cầu muôn thủa…
Những con đường còn những phút giây đầy bất ngờ, bất chợt trở lại tuổi thơ với mùi cỏ non thơm ngát dọc đường mỗi sớm mai, một cô công nhân trẻ đang cắt tỉa vạt cỏ bên đường… Mùi đất thơm nồng của những ngày trồng cấy lại hoa mới đưa ta về với tuổi thơ của ruộng đồng cây cỏ…
Cứ đều đều như vậy, các con đường nối với nhau bằng ngã rẽ, ngã ba, ngã tư và kéo theo nó là những mùi hương nối với nhau bằng phút giao mùa…xuyên không gian và thời gian…đan vào tâm trí ta những sợi hương thanh thanh, thi thoảng cất đi trong ký ức rồi lại chợt bay về làm ta vương vấn, bồi hồi và rung động…
“Màu thời gian không xanh. Màu thời gian tím ngát. Hương thời gian không nồng. Hương thời gian thanh thanh”. Màu thời gian. Đoàn Phú Tứ
(*)… “comme ce quelqu’un qui vient m’attendre, au bout du chemin”. Jour de neige. Elsa
-
Lời chào từ Minh- Hi from Minh – Un petit bonjour de Minh
Bạn đang ghé thăm trang của tôi, nơi tôi chia sẻ góc nhìn của mình trong quá trình khám phá, học hỏi và phát triển | You are visiting my page, where I share my perspectives throughout my journey of exploring, learning and growth| Vous êtes en train de visiter ma page, où je partage mon point de vue tout au long de mon parcours d’explorer, d’apprentissage et de développement.
● Minh’s blog

Chào mừng bạn đến không gian chia sẻ của Nguyễn Đặng Tuấn Minh.


